Thuốc Alimta 500mg Lilly để điều trị trường hợp u trung biểu mô màng phổi ác tính, ung thư phổi
Thuốc Alimta 500mg được sản xuất bởi Eli Lilly & Company, có thành phần chính là pemetrexed (dạng natri pemetrexed), là thuốc dạng tiêm truyền được dùng kết hợp với Cisplatin để điều trị cho những trường hợp u trung biểu mô màng phổi ác tính và ung thư phổi không tế bào nhỏ tiến triển cục bộ hoặc đã di căn sang các bộ phận khác.
- Thương hiệu
- Lilly
- Phân loại
- Thuốc kê đơn
- Số đăng ký
- VN-21019-18
- Quy cách/đơn vị
- Hộp
- Nhà sản xuất
- Eli Lilly & Company
Công dụng / chỉ định
Chỉ định Thuốc Alimta 500mg Eli Lilly được chỉ định dùng trong các trường hợp sau: U trung biểu mô màng phổi ác tính Alimta kết hợp với cisplatin được chỉ định để điều trị các bệnh nhân có u trung biểu mô màng phổi ác tính không thể cắt bỏ chưa được dùng hóa trị liệu. Ung thư phổi không tế bào nhỏ Alimta kết hợp với cisplatin là trị liệu bước một trong điều trị cho các bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ tiến triển tại chỗ hoặc đã di căn, không phải loại chủ yếu là tế bào hình vảy theo mô học. Alimta được chỉ định để điều trị duy trì ở những bệnh nhân bị ung thư phổi không tế bào nhỏ, không phải tế bào vảy, tiến triển tại chỗ hoặc di căn mà bệnh không tiến triển ngay sau 4 chu kỳ hóa trị liệu đầu tay dựa trên platinum. Alimta được chỉ định như một đơn trị liệu bước hai trong điều trị cho các bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ tiến triển tại chỗ hoặc đã di căn, không phải loại chủ yếu là tế bảo hình vảy theo mô học. Dược lực học Nhóm dược trị liệu: các chất tương tự acid folic, mã ATC: L01BA04. Alimta (pemetrexed) là một thuốc chống folat chống ung thư nhiều mục tiêu, có tác dụng nhờ phá vỡ các quá trình chuyển hóa chủ yếu phụ thuộc folat cần thiết cho sự sao chép tế bào. Các nghiên cứu in vitro cho thấy pemetrexed có tác dụng của một thuốc chống folat nhiều mục tiêu bằng cách ức chế thymidylat synthase (TS), dihydrofolat reductase (DHFR), và glycinamid ribonucleotid formyltransferase (GARFT), là những enzym phụ thuộc folat chủ chốt đối với sinh tổng hợp của thymidin và các purin nucleotid. Pemetrexed được vận chuyển vào trong tế bảo bởi cả các hệ thống chất mang folat khử và vận chuyển protein gắn kết folat màng. Một khi ở trong tế bào, pemetrexed được chuyển đổi nhanh và với hiệu suất cao thành các dạng polyglutamat bởi enzym folylpolyglutamat synthetase. Các dạng polyglutamat được giữ trong tế bảo và còn là những chất ức chế TS và GARFT mạnh hơn. Sự đa glutamat hóa là một quá trình phụ thuộc vào thời gian và nồng độ xảy ra trong các tế bào ung thư, và ở mức độ hạn chế hơn, trong các mô bình thường. Các chất chuyển hóa đa-glutamat hóa có sự tăng nửa đời trong tế bào dẫn đến sự kéo dài tác dụng của thuốc trong các tế bào ung thư. Hiệu quả lâm sàng: U trung biểu mô: EMPHACIS, một nghiên cứu pha 3 đa trung tâm, ngẫu nhiên, mù đơn so sánh Alimta kết hợp cisplatin với cisplatin đơn độc ở bệnh nhân có u trung biểu mô màng phổi ác tính chưa dùng hóa trị liệu, cho thấy bệnh nhân điều trị với Alimta và cisplatin có lợi thế sống sót trung bình có ý nghĩa lâm sàng 2,8 tháng so với bệnh nhân chỉ dùng cisplatin. Trong nghiên cứu, bệnh nhân được bổ sung thêm acid folic và vitamin B12, liều thấp để làm giảm độc tính. Phân tích chính của nghiên cứu này được thực hiện trên quần thể tất cả bệnh nhận được chỉ định ngẫu nhiên vào một nhóm điều trị, dùng thuốc nghiên cứu (ngẫu nhiên và điều trị). Phân tích phân nhóm được thực hiện trên bệnh nhân được dùng bổ sung acid folic và vitamin B12 trong toàn bộ nghiên cứu (được bổ sung đầy đủ). Sự cải thiện có ý nghĩa thống kê các triệu chứng lâm sàng (đau và khó thở) liên quan đến u trung biểu mô màng phổi ác tính trong nhánh ALIMTA/cisplatin (212 bệnh nhãn) so với nhánh chỉ dùng cisplatin (218 bệnh nhân) đã được chứng minh khi dùng Thang chia độ triệu chứng ung thư phổi. Đã quan sát thấy sự khác nhau có ý nghĩa thống kê trong các xét nghiệm chức năng phổi. Đã đạt được sự phẫn tách giữa các nhánh điều trị dựa trên sự cải thiện về chức năng phổi trong nhánh ALIMTA/cisplatin và sự xấu đi của chức năng phổi ở nhánh đối chứng theo thời gian. Các dữ liệu về bệnh nhân có u trung biểu mô mảng phổi ác tính được điều trị bằng Alimta đơn độc còn hạn chế. Alimta đơn độc, liều 500 mg/m2 được dùng cho 64 bệnh nhân có u trung biểu mô mảng phổi ác tính chưa dùng hóa trị liệu trước đó. Tỷ lệ đáp ứng tính chung là 14,1%. Ung thư phổi không tế bảo nhỏ (NSCLC), trị liệu bước hai: Một nghiên cứu pha 3, đa trung tâm, nhãn mở, ngẫu nhiên so sánh Alimta với docetaxel ở bệnh nhân NSCLC tiến triển tại chỗ hoặc di căn đã từng điều trị hoá chất cho thấy thời gian sống sót trung bình là 8,3 tháng đối với bệnh nhân điều trị với Alimta (quần thể chủ đích điều trị n = 283) và 7,9 tháng đối với bệnh nhân điều trị với docetaxel (ITT n = 288). Hóa trị liệu trước đó không bao gồm Alimta. Một phân tích ảnh hưởng của NSCLC mô học tới hiệu quả điều trị tỉnh chung trên thời gian sống sót cho thấy Alimta vượt trội docetaxel trong các trường hợp không phải chủ yếu là tế bào vảy (n = 399, 9,3 so với 8,0 tháng, HR hiệu chỉnh = 0,78; 95%CI = 0,61 – 1,00, p = 0,047) và docetaxel vượt trội hơn trong carcinoma tế bảo vảy (n = 172, 6,2 so với 7,4 tháng. HR hiệu chỉnh = 1,56; 95%CI = 1,08 - 226, p = 0,018). Không nhận thấy có sự khác biệt lâm sàng về độ an toàn của Alimta trong từng phân nhóm theo mô học. Các dữ liệu lâm sàng còn hạn chế từ một nghiên cứu pha 3 ngẫu nhiên có đối chứng độc lập cho thấy hiệu quả lâm sàng (thời gian sống thêm toàn bộ, thời gian sống không bệnh) của pemetrexed tương tự nhau ở các bệnh nhân trước đó đã điều trị bằng docetaxel (n = 41) và các bệnh nhân chưa được điều trị bằng docetaxel (n = 540). Ung thư phổi không tế bào nhỏ, trị liệu bước một: Một nghiên cứu ngẫu nhiên, đa trung tâm, nhãn mở pha 3 so sánh Alimta phối hợp cisplatin với gemcitabin phối hợp cisplatin điều trị cho bệnh nhân ung thư phổi không tế bảo nhỏ (NSCLC) tiến triển tại chỗ hoặc đã di căn (Giai đoạn IIIb hoặc IV) cho thấy Alimta phối hợp với cisplatin (số lượng bệnh nhân chủ định điều trị ((ITT)n = 862) đạt được chỉ tiêu điều trị chính và có hiệu quả lâm sàng tương tự như gemcitabin phối hợp cisplatin (ITTn = 863) về thời gian sống thêm toàn bộ (tỉ số nguy cơ hiệu chỉnh 0.94; 95%CI = 0,84 – 1,05). Tất cả các bệnh nhân tham gia trong nghiên cứu này có biểu hiện tình trạng ECOG 0 hoặc 1. Phân tích hiệu quả chủ yếu được dựa trên quần thể ITT. Phân tích độ nhạy cảm của chỉ tiêu hiệu quả chủ yếu cũng được đánh giá trên quần thể đạt được đúng đề cương nghiên cứu (quần thể PQ). Phân tích hiệu quả trên quần thể PQ cho kết quả đồng nhất với khi phân tích quần thể ITT và cho thấy AC không thua kém GC. Thời gian sống bệnh không tiến triển (PFS) và tỉ lệ đáp ứng nói chung tương tự nhau giữa các nhánh điều trị: trung vị PFS là 4,8 tháng đối với Alimta phối hợp cisplatin và là 5,1 tháng đối với gemcitabin phối hợp cisplatin (tỷ số nguy cơ hiệu chỉnh 1,04; 95% CI= 0,94 – 1,15), và tỉ lệ đáp ứng chung là 30,6% (95% CI = 27,3 – 33,9) với nhóm Alimta + cisplatin và là 28,2% (95% CI = 25,0 – 31,4) với nhóm gemcitabin + cisplatin. Dữ liệu PFS phấn nào đó được khẳng định bằng một đánh giá độc lập (400/1725 bệnh nhân được lựa chọn ngẫu để đánh giá). Phân tích sự ảnh hưởng của NSCLC mô học trên tỉ lệ sống thêm toàn bộ cho khi có sự khác biệt trên lâm sàng về tỉ lệ sống sót tuỳ thuộc mô học. Không có sự khác biệt có ý nghĩa lâm sàng được nhận thấy về độ an toàn của Alimta phối hợp cisplatin trong từng phân nhóm theo mô học. Bệnh nhân điều trị bằng Alimta phối hợp cisplatin it phải truyền hơn (16,4% so với 28,9%, p < 0,001), truyền tế bảo hồng cầu (16,1% so với 27,3%, p < 0,001) và truyền tiểu cầu (1,8% so với 4,5%, p = 0,002). Bệnh nhân cũng ít phải dùng hơn erythropoietin/darbopoietin (10,4% so với 18,1%, p < 0,001), G-CSF/GM-CSF (3,1% so với 6,1%, p= 0,004), chế phẩm sắt (4,3% so với 7,0%, p = 0,021). Ung thư phổi không tế bào nhỏ, điều trị duy trì: Một nghiên đa trung tâm, pha 3, ngẫu nhiên, nhãn mở, có đối chứng giả được so sánh hiệu quả và tác dụng của việc điều trị duy trì bằng Alimta kèm theo sự chân sóc hỗ trợ tốt nhất (BSC) (n=441) với điều trị giả được kèm BSC (n = 222) ở các bệnh nhân bị ung thư phổi không tế bào nhỏ di căn (giai đoạn 4) hoặc tiến triển tại chỗ (giai đoạn 3) mà không tiến triển sau 4 chu kỳ của trị liệu bước một cặp đôi cisplatin hoặc carboplatin kết hợp với gemcitabin, paclitaxel, hoặc docetaxel. Không bao gồm trị liệu bước một cặp đối với Alimta. Tất cả bệnh nhân bao gồm trong nghiên cứu này có ECOG 0 hoặc 1. Bệnh nhân được điều trị duy trì cho đến khi bệnh tiến triển. Hiệu quả và độ an toàn được đánh giá từ thời điểm ngẫu nhiên sau khi hoàn tất trị liệu bước một. Bệnh nhân được điều trị trung bình 5 chu kỳ của trị liệu duy trì với Alimta và 3,5 chu kỳ với giả dược. Tổng cộng 213 bệnh nhân (48,3%) hoàn tất ≥ 6 chu kỳ và tổng cộng 103 bệnh nhân (23,4%) hoàn tất ≥ 10 chu kỳ điều trị với Alimta. Nghiên cứu đáp ứng điểm kết thúc cơ bản và cho thấy sự cải thiện có ý nghĩa thống kê về PFS ở nhóm Alimta so với nhóm giả dược (n = 581, nhóm đánh giá độc lập; trung bình 4,0 tháng và 2,0 tháng tương ứng) (tỉ lệ rủi ro = 0,6, 95% CI = 0,49 – 0,73, p < 0,00001). Kết quả đánh giá từ những nhóm nghiên cứu độc lập đã khẳng định kết quả đánh giá của cuộc khảo sát về PFS. Tỉ lệ sống thêm trung bình với các đối tượng nói chung (n = 663) là 13,4% tháng với nhóm Alimta và 10,6 tháng với nhóm giả được, tỉ lệ rủi ro = 0,79 (95% CI = 0,65 – 0,95, p = 0,01192). Phù hợp với các nghiên cứu Alimta khác, sự khác nhau về hiệu quả theo NSCLC mô học được quan sát thấy trong JMEN. Ở các bệnh nhân với NSCLC trừ mô tế bào hình vảy (n = 430, nhóm đánh giá độc lập) PFS trung bình là 4,4 tháng với nhóm Alimta và 1,8 tháng với nhóm giả dược, tỉ lệ rủi ro = 0,47 (95% CI = 0,37 – 0,60, p = 0,00001). Tỉ lệ sống sót thêm trung bình ở các bệnh nhân NSCLC trừ mô tế bào hình vảy (n = 481) là 15,5% tháng với nhóm ALIMTA và 10,3 tháng với nhóm giả dược, tỉ lệ rủi ro = 0,70 (95% CI = 0,56 – 0,88, p = 0,002). Bao gồm pha khởi đầu tỉ lệ sống thêm trung bình với các bệnh nhân NSCLC trừ mô tế bào hình vảy là 18,6 tháng với nhóm Alimta và 13,6 tháng với nhóm giả dược, tỉ lệ rủi ro = 0,71 (95% CI = 0,56 – 0,88, p = 0,002). Các kết quả PFS và OS ở các bệnh nhân với mô tế bào hình vảy không cho thấy lợi ích của Alimta so với giả được. Không thấy có sự khác biệt có ý nghĩa lâm sàng về độ an toàn của Alimta trong các phân nhóm theo mô học. PARAMOUNT Một nghiên cứu Pha 3 đa trung tâm, ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng với giả dược(PARAMOUNT), so sánh hiệu quả và độ an toàn của việc điều trị duy trì liên tục bằng Alimta cộng với chăm sóc hỗ trợ tốt nhất (BSC) (n = 359) với giả được cộng với chăm sóc hỗ trợ tốt nhất (n = 180) ở những bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) tiến triển tại chỗ (Giai đoạn IIIB) hoặc di căn (Giai đoạn IV) khác ngoài mô học tế bào vảy chủ yếu, là những người đã không tiến triển sau 4 chu kỳ điều trị kép bước một bằng Alimta phối hợp với cisplatin. Trong số 939 bệnh nhân được điều trị khởi đầu bằng Alimta cộng cisplatin, 539 bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên vào nhóm điều trị duy trì bằng pemetrexed hoặc nhóm dùng giả dược. Trong số những bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên, 44,9% có đáp ứng hoàn toàn/đáp ứng một phần và 51,9% có đáp ứng bệnh ổn định với việc điều trị khởi đầu bằng Alimta cộng cisplatin. Những bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên vào nhóm điều trị duy trì cần phải có điểm số về tình trạng hoạt động cơ thể theo thang điểm của ECOG (Nhóm Hợp tác về Ung thư phương Đông) là 0 hoặc 1. Thời gian trung bình từ lúc bắt đầu trị liệu khởi đầu bằng Alimta cộng cisplatin đến khi bắt đầu điều trị duy trì là 2,96 tháng ở cả nhóm dùng pemetrexed và nhóm dùng giả dược. Những bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên đã được điều trị duy trì cho đến khi bệnh tiến triển. Hiệu quả và độ an toàn đã được đánh giá từ thời điểm chọn ngẫu nhiên sau khi hoàn thành trị liệu (khởi đầu) bước một. Các bệnh nhân nhận được trung bình 4 chu kỳ điều trị duy trì bằng Alimta và 4 chu kỳ bằng giả dược. Tổng cộng có 169 bệnh nhân (47,1%) đã hoàn thành ≥ 6 chu kỳ điều trị duy trì bằng Alimta, đại diện cho ít nhất tổng cộng 10 chu kỳ Alimta. Nghiên cứu đã đạt được mục tiêu cơ bản và cho thấy sự cải thiện có ý nghĩa thống kê về thời gian sống còn không tiến triển bệnh (PFS) ở nhóm Alimta nhiều hơn nhóm giả dược (n = 472, nhóm được xem xét độc lập; trung bình 3,9 tháng và 2,6 tháng, theo thứ tự tương ứng) (tỷ số nguy cơ = 0,64, khoảng tin cậy (CI) 95% = 0,51 – 0,81, p = 0,0002). Đánh giá độc lập về chụp hình ảnh bệnh nhân đã xác nhận các kết quả đánh giá của nhà nghiên cứu về thời gian sống không tiến triển bệnh. Đối với những bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên, như đã được đánh giá từ lúc bắt đầu điều trị khởi đầu bước một bằng Alimta cộng cisplatin, thời gian sống không tiến triển bệnh trung bình theo đánh giá của nhà nghiên cứu là 6,9 tháng đối với nhóm dùng Alimta và 5,6 tháng đối với nhóm dùng giả dược (tỷ số nguy cơ = 0,59, khoảng tin cậy (C1) 95%= 0,47 – 0,74). Sau khi trị liệu khởi đầu bằng Alimta cộng cisplatin (4 chu kỳ), việc điều trị bằng Alimta trội hơn có ý nghĩa thống kê so với gia được về thời gian sống thêm toàn bộ (OS) (trung bình 13,9 tháng so với 11,0 tháng, tỷ số nguy cơ = 0,78, khoảng tin cậy (CI) 95% = 0,64 – 0,96, p = 0,0195). Tại thời điểm phân tích sống còn cuối cùng, 28,7% bệnh nhân còn sống hoặc mất theo dõi ở nhóm Alimta so với 21,7% ở nhóm giả dược. Hiệu quả điều trị tương đối của Alimta là nhất quản giữa các phân nhóm (bao gồm giai đoạn bệnh, đáp ứng với trị liệu khởi đầu, tình trạng hoạt động cơ thể theo thang điểm của ECOG, tình trạng hút thuốc lá, giới tính, mô học và tuổi) và giống như đã quan sát thấy trong phân tích thời gian sống thêm toàn bộ (OS) và thời gian sống không tiến triển bệnh (PFS) chưa điều chỉnh. Tỷ lệ sống thêm 1 năm và 2 năm đối với bệnh nhân đang dùng Alimta là 58% và 32% theo thứ tự tương ứng, so với 45% và 21% đối với bệnh nhân dùng giả dược. Từ lúc bắt đầu điều trị khởi đầu bước một bằng Alimta cộng cisplatin, thời gian sống còn trung bình của bệnh nhân là 16,9 tháng đối với nhóm Alimta và 14 tháng đối với nhóm giả dược (tỷ số nguy cơ = 0,78, khoảng tin cậy (CI) 95% = 0,64 – 0,96). Tỷ lệ phần trăm bệnh nhân nhận được điều trị sau nghiên cứu là 64,3% đối với nhóm ALIMTA và 71,7% đối với nhóm giả được. Dược động học Đặc tính dược động học của pemetrexed sau khi dùng đơn liều đã được đánh giá trên 426 bệnh nhân ung thư có u đặc khác nhau với các liều từ 0,2 đến 838 mg/m 2 được truyền trong thời gian 10 phút. Pemetrexed có thể tích phân bố ở trạng thái cân bằng là 9 lít/m 2 . Các nghiên cứu in vitro cho thấy pemetrexed liễn kết với protein huyết tương khoảng 81%. Sự liên kết không bị ảnh hưởng đáng kể bởi các mức độ suy thận khác nhau. Pemetrexed ít chuyển hóa ở gan. Pemetrexed được bài tiết chủ yếu qua nước tiểu, với 70% đến 90% của liều dùng được tái hiện ở dạng không đổi trong nước tiểu trong vòng 24 giờ đầu sau khi truyền. Hệ số thanh thải tổng cộng của pemetrexed là 91,8 ml/phút và nửa đời thải trừ khỏi huyết tương là 3,5 giờ ở bệnh nhân có chức năng thận bình thưởng (độ thanh thải creatinin là 90 ml/phút). Sự dao động về độ thanh thải giữa các bệnh nhân ở mức độ vừa, là 19,3%. Mức độ phơi nhiễm hệ thống (AUC) của pemetrexed và nồng độ tối đa trong huyết tương tăng tỷ lệ với liều. Dược động học của pemetrexed không thay đổi trong nhiều chu kỳ điều trị. Các đặc tính được động học của pemetrexed không bị ảnh hưởng bởi cisplatin dùng đồng thời. Bổ sung acid folic đường uống và vitamin B12 tiêm bắp không ảnh hưởng tới dược động học của pemetrexed.
Thành phần
Pemetrexed 500mg
Cách dùng
Cách dùng Bột đông khô pha dung dịch tiêm truyền tĩnh mạch theo liều lượng y tế. Alimta nên được truyền trong 10 phút vào ngày thứ nhất của mỗi chu kỳ 21 ngày. Liều dùng Chỉ dùng Alimta dưới sự giám sát của bác sĩ có kinh nghiệm sử dụng hóa trị liệu chống ung thư. Alimta phối hợp với cisplatin: Liều khuyến cáo của Alimta là 500 mg/m 2 diện tích bề mặt cơ thể (BSA), truyền tĩnh mạch trong 10 phút ở ngày thứ nhất của mỗi chu kỳ 21 ngày. Liều khuyến cáo của cisplatin là 75 mg/m 2 BSA truyền trong hai giờ, khoảng 30 phút sau khi tiêm truyền xong pemetrexed ở ngày thứ nhất của mỗi chu kỳ 21 ngày. Bệnh nhân phải được nhận liệu pháp chống nôn đầy đủ và được bù nước thích hợp trước và/hoặc sau khi tiêm truyền cisplatin. Alimta dùng đơn độc: Ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ đã từng dùng hoá trị liệu trước đó, liều khuyến cáo của Alimta là 500 mg/m 2 BSA, truyền tĩnh mạch trong 10 phút ở ngày thứ nhất của mỗi chu kỳ 21 ngày. Chuẩn bị trước khi trị liệu: Để giảm tần suất và mức độ nặng của các phản ứng da, cần cho bệnh nhân sử dụng một corticosteroid vào ngày trước, ngày tiêm truyền, và ngày sau khi tiêm truyền pemetrexed. Sử dụng corticosteroid với liều tương đương dexamethason 4 mg uống 2 lần mỗi ngày. Để giảm độc tính của thuốc, bệnh nhân điều trị với pemetrexed phải dùng bổ sung vitamin. Bệnh nhân phải uống acid folic hoặc một chế phẩm nhiều vitamin có chứa acid folic (350 đến 1.000 microgam) hàng ngày. Phải uống ít nhất 5 liều acid folic trong 7 ngày trước khi dùng liều pemetrexed đầu tiên, và phải tiếp tục uống trong toàn bộ đợt điều trị và trong 21 ngày sau liều pemetrexed cuối cùng. Bệnh nhân cũng phải được tiêm bắp vitamin B12 (1.000 microgam) trong tuần trước liều pemetrexed đầu tiên và sau đó một lần mỗi 3 chu kỳ. Những lần tiêm vitamin B12 tiếp sau có thể vào cùng ngày với pemetrexed. Theo dõi: Trước mỗi liều dùng pemetrexed, bệnh nhân phải được kiểm tra toàn bộ số lượng tế bào máu bao gồm công thức bạch cầu và số lượng tiểu cầu. Trước mỗi đợt dùng hóa trị liệu, cần làm xét nghiệm hóa sinh máu để đánh giá chức năng thận và gan. Trước khi bắt đầu mỗi chu kỳ hóa trị liệu, tiêu chuẩn bệnh nhân cần phải đạt được như sau: số lượng bạch cầu trung tính (ANC) phải ≥ 1.500/mm 3 và số lượng tiểu cầu phải ≥ 100.000/mm 3 . Hệ số thanh thải creatinin phải > 45 ml/phút. Bilirubin toàn phần phải ≤ 1,5 lần giới hạn trên của bình thường. Phosphatase kiềm (AP), aspartat transaminase (AST hoặc SGOT) và alanin transaminase (ALT hoặc SGPT) phải ≤ 3 lần giới hạn trên của bình thường. Phosphatase kiềm, AST và ALT ≤ 5 lần giới hạn trên của bình thường có thể chấp nhận được trong trường hợp có di căn tới gần. Người già: Trong nghiên cứu lâm sàng, không có dấu hiệu là bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên có nguy cơ về tác dụng không mong muốn nhiều hơn so với bệnh nhân dưới 65 tuổi. Không cần sự giảm liều nào khác ngoài chế độ giảm liều được khuyến cáo chung cho tất cả bệnh nhân. Trẻ em và thiếu niên: Alimta không được khuyến cáo dùng cho bệnh nhân dưới 18 tuổi vì chưa xác định sự an toàn và hiệu quả trong nhóm bệnh nhân này. Bệnh nhân suy thận: (Công thức Cockcroft và Gault chuẩn hoặc tốc độ lọc cầu thận đo bằng phương pháp thanh thải huyết thanh Tc99m-DPTA): Pemetrexed được thải trừ chủ yếu dưới dạng không đổi bởi sự bài tiết của thận. Trong nghiên cứu lâm sàng, bệnh nhân có hệ số thanh thải creatinin ≥ 45ml/phút không cần sự điều chỉnh liều nào khác ngoài sự điều chỉnh được khuyến cáo cho tất cả bệnh nhân. Không có dù dữ liệu về sử dụng pemetrexed ở bệnh nhân có độ thanh thải creatinin dưới 45 ml/phút; do đó không khuyến cáo dùng pemetrexed. Bệnh nhân suy gan: Không tìm thấy có sự liên quan giữa AST (SGOT), ALT (SGPT), hoặc bilirubin toàn phần và dược động học của pemetrexed. Tuy nhiên bệnh nhân bị suy gan với bilirubin > 1,5 lần giới hạn trên của bình thường và/hoặc transaminase > 3,0 lần giới hạn trên của bình thưởng (không có di căn gan) hoặc > 5,0 lần giới hạn trên của bình thường (có di căn gan) chưa được nghiên cứu riêng biệt. Làm gì khi dùng quá liều? Các triệu chứng của quá liều được báo cáo gồm giảm bạch cầu trung tính, thiếu máu, giảm số lượng tiểu cầu, viêm niêm mạc, đa bệnh lý thần kinh cảm giác và ban da. Các biến chứng dự đoán của quá liều gồm ức chế tủy xương được biểu hiện bởi giảm bạch cầu trung tính, giảm số lượng tiểu cầu và thiếu máu. Ngoài ra, có thể gặp nhiễm khuẩn có hoặc không có sốt, tiêu chảy và/hoặc viêm niêm mạc. Trong trường hợp nghi quá liều, phải theo dõi bệnh nhân, kiểm tra công thức máu và thực hiện liệu pháp hỗ trợ khi cần. Cân nhắc việc sử dụng calci folinat/acid folinic trong điều trị quá liều pemetrexed. Trong trường hợp khẩn cấp, hãy gọi ngay cho Trung tâm cấp cứu 115 hoặc đến trạm Y tế địa phương gần nhất. Làm gì khi quên 1 liều? Bổ sung liều ngay khi nhớ ra. Tuy nhiên, nếu thời gian giãn cách với liều tiếp theo quá ngắn thì bỏ qua liều đã quên và tiếp tục lịch dùng thuốc. Không dùng liều gấp đôi để bù cho liều đã bị bỏ lỡ.
Lưu ý và cảnh báo
Những điều cần lưu ý khi sử dụng Người bệnh cần tìm hiểu kỹ thông tin hướng dẫn và tham khảo các nội dung cảnh báo dưới đây trước khi bắt đầu quá trình điều trị. Trường hợp không nên sử dụng Thuốc Alimta 500mg Eli Lilly không được phép sử dụng cho các đối tượng sau: Người có tiền sử dị ứng hoặc mẫn cảm với hoạt chất Pemetrexed hay bất kỳ thành phần tá dược nào của thuốc. Người mẹ đang trong thời kỳ nuôi con bằng sữa mẹ (yêu cầu dừng cho trẻ bú suốt thời gian trị liệu). Trường hợp đang tiêm ngừa vắc xin sốt vàng. Cảnh báo và thận trọng Ức chế tủy xương: Hoạt chất Pemetrexed có khả năng làm suy giảm chức năng tủy xương, dẫn đến các tình trạng như thiếu máu, giảm tiểu cầu và giảm bạch cầu trung tính. Đây là độc tính giới hạn liều dùng. Việc điều trị chỉ được tiến hành hoặc tiếp tục khi chỉ số bạch cầu trung tính (ANC) tối thiểu đạt 1.500/mm3 và lượng tiểu cầu đạt từ 100.000/mm3 trở lên. Bác sĩ sẽ căn cứ vào mức độ độc tính ngoài máu và chỉ số tế bào máu thấp nhất ở chu kỳ trước để điều chỉnh giảm liều cho đợt tiếp theo. Dự phòng độc tính bằng Vitamin: Việc bổ sung trước acid folic cùng vitamin B12 giúp hạn chế đáng kể tần suất cũng như mức độ nghiêm trọng của các độc tính trên máu và ngoài máu (độ 3/4) như nhiễm trùng, sốt do giảm bạch cầu. Bệnh nhân bắt buộc phải tuân thủ phác đồ dự phòng này. Phản ứng trên da: Để giảm thiểu nguy cơ và mức độ của các phản ứng ngoài da, người bệnh nên được điều trị dự phòng trước bằng dexamethason (hoặc hoạt chất tương đương). Bệnh nhân suy giảm chức năng thận: Do thiếu dữ liệu lâm sàng đầy đủ, không khuyến cáo sử dụng thuốc cho người có độ thanh thải creatinin dưới 45 ml/phút. Đối với người suy thận nhẹ đến trung bình (độ thanh thải creatinin trong khoảng 45 đến 79 ml/phút), cần ngưng dùng các thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs) như ibuprofen hay aspirin liều cao (> 1,3 g/ngày) trong vòng 2 ngày trước, trong ngày truyền và 2 ngày sau khi dùng Pemetrexed. Với các NSAID có thời gian bán thải kéo dài, tất cả bệnh nhân đủ điều kiện dùng Pemetrexed phải dừng các thuốc này ít nhất 5 ngày trước khi điều trị và 2 ngày sau khi hoàn tất điều trị. Độc tính trên thận: Đã có ghi nhận về các ca suy thận cấp và biến cố thận nghiêm trọng khi dùng Pemetrexed đơn trị hoặc đa trị liệu, đặc biệt ở người có sẵn bệnh nền như đái tháo đường, tăng huyết áp hoặc bị mất nước. Tích lũy dịch khoang thứ ba: Chưa xác định rõ tác động của tình trạng tràn dịch màng phổi hoặc cổ trướng đối với hoạt chất Pemetrexed. Cần cân nhắc thực hiện thủ thuật dẫn lưu dịch trước khi truyền thuốc nếu lượng dịch tích tụ lớn. Độc tính tiêu hóa và mất nước: Sự kết hợp giữa cisplatin và Pemetrexed dễ gây mất nước nghiêm trọng do độc tính trên đường tiêu hóa. Bệnh nhân cần được truyền dịch bù nước và dùng thuốc chống nôn đầy đủ trước cũng như sau khi can thiệp. Biến cố tim mạch: Các tai biến mạch máu não hoặc nhồi máu cơ tim rất hiếm gặp và thường xuất hiện khi phối hợp với các hóa chất độc tế bào khác trên bệnh nhân sẵn có nguy cơ tim mạch. Hệ miễn dịch và vắc xin: Do thể trạng người bệnh ung thư bị suy giảm miễn dịch, không nên tiêm các loại vắc xin sống giảm độc lực. Sức khỏe sinh sản và di truyền: Pemetrexed có nguy cơ gây tổn thương vật chất di truyền. Nam giới trong độ tuổi sinh sản được khuyến cáo không thụ thai trong thời gian điều trị và kéo dài tới 6 tháng sau đó, đồng thời nên áp dụng các biện pháp tránh thai an toàn hoặc kiêng quan hệ. Do thuốc có thể gây vô sinh vĩnh viễn, nam giới nên chủ động tư vấn về việc trữ đông tinh trùng trước khi bắt đầu liệu trình. Phụ nữ có khả năng mang thai bắt buộc phải sử dụng các biện pháp ngừa thai hiệu quả trong suốt quá trình điều trị. Viêm phổi do xạ trị: Cần đặc biệt lưu ý và thận trọng ở những bệnh nhân đã, đang hoặc sẽ thực hiện xạ trị kết hợp, do nguy cơ viêm phổi khu trú hoặc phản ứng viêm da vùng xạ trị (nhiễm xạ) có thể xuất hiện sau vài tuần đến vài năm. Hàm lượng Natri: Mỗi lọ thuốc chứa khoảng 54mg natri, cần lưu ý đối với người bệnh đang áp dụng chế độ ăn kiêng muối nghiêm ngặt. Ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc Chưa có nghiên cứu chuyên biệt về tầm ảnh hưởng này. Tuy nhiên, do Pemetrexed có thể gây ra trạng thái mệt mỏi, người bệnh cần được cảnh báo không nên vận hành máy móc hoặc lái xe nếu xuất hiện triệu chứng này. Sử dụng thuốc cho phụ nữ trong thời kỳ mang thai và cho con bú Thai kỳ: Chưa có đủ dữ liệu nghiên cứu trên người, nhưng tương tự các chất chống chuyển hóa khác, Pemetrexed bị nghi ngờ gây dị tật bẩm sinh nghiêm trọng. Thử nghiệm trên động vật đã chứng minh độc tính đối với hệ sinh sản. Do đó, không dùng thuốc cho phụ nữ mang thai trừ khi lợi ích điều trị cho người mẹ vượt trội hoàn toàn so với rủi ro cho thai nhi. Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ phải ngừa thai nghiêm ngặt khi điều trị. Khả năng sinh sản ở nam giới: Cần áp dụng biện pháp tránh thai hoặc kiêng quan hệ trong khi điều trị và 6 tháng sau đó. Nên tìm hiểu việc lưu trữ tinh trùng trước khi dùng thuốc do nguy cơ vô sinh không hồi phục. Cho con bú: Chưa rõ khả năng bài tiết của thuốc vào sữa mẹ. Để tránh các phản ứng bất lợi cho trẻ sơ sinh, người mẹ bắt buộc phải ngừng cho con bú trong suốt thời gian điều trị bằng Pemetrexed. Tương tác với thuốc khác Thuốc đào thải qua thận: Pemetrexed được bài tiết chủ yếu qua thận dưới dạng chưa chuyển hóa. Việc dùng chung với các thuốc có độc tính trên thận (như cyclosporin, hợp chất platin, thuốc lợi tiểu quai, aminoglycosid) hoặc các thuốc được bài tiết qua ống thận (như penicilin, probenecid) có thể làm giảm tốc độ thanh thải của Pemetrexed. Cần hết sức thận trọng và theo dõi sát sao độ thanh thải creatinin nếu bắt buộc phải phối hợp. Tương tác với NSAID và Aspirin: Ở người có chức năng thận bình thường (độ thanh thải creatinin ≥ 80 ml/phút), việc dùng aspirin liều cao (≥ 1,3 g/ngày) hoặc các NSAID liều cao (như ibuprofen > 1.600 mg/ngày) có thể làm giảm thải trừ và tăng độc tính của Pemetrexed. Ở người suy thận nhẹ đến trung bình (độ thanh thải creatinin từ 45 đến 79 ml/phút), cần tránh dùng aspirin liều cao hoặc các NSAID trong khoảng thời gian 2 ngày trước, trong ngày dùng và 2 ngày sau khi dùng Pemetrexed. Với các NSAID có thời gian bán thải dài (như rofecoxib, piroxicam), cần tránh dùng đồng thời trong ít nhất 5 ngày trước và 2 ngày sau khi truyền Pemetrexed. Nếu không thể thay thế, phải giám sát chặt chẽ các biểu hiện độc tính trên đường tiêu hóa và tình trạng suy tủy. Chuyển hóa tại gan: Pemetrexed ít chuyển hóa qua gan. Các thử nghiệm in vitro cho thấy hoạt chất này không gây ức chế đáng kể sự chuyển hóa của các thuốc được xử lý bởi các enzyme CYP1A2, CYP2C9, CYP2D6 và CYP3A. Tương tác chung của nhóm hóa trị độc tế bào: Bệnh nhân ung thư có nguy cơ cao bị huyết khối và thường phải dùng thuốc kháng đông đường uống. Do tình trạng đông máu dễ biến động và có khả năng tương tác giữa thuốc kháng đông với hóa chất trị liệu, cần tăng tần suất kiểm tra chỉ số INR cho người bệnh. Vắc xin sốt vàng: Chống chỉ định dùng đồng thời do nguy cơ bùng phát bệnh toàn thân dẫn đến tử vong. Vắc xin sống giảm độc lực khác: Không khuyến cáo phối hợp do nguy cơ gây bệnh toàn thân nghiêm trọng, thậm chí tử vong, đặc biệt ở người đã bị suy giảm miễn dịch. Nên ưu tiên lựa chọn vắc xin bất hoạt (như vắc xin bại liệt) nếu có chỉ định.
Mô tả chi tiết
Thuốc Alimta 500mg Lilly để là gì? Dưới sự nghiên cứu và sản xuất từ thương hiệu dược phẩm Eli Lilly & Company , chế phẩm y tế Alimta 500mg sở hữu hoạt chất chủ đạo là Pemetrexed (tồn tại dưới dạng muối natri pemetrexed). Đây là dòng thuốc bào chế theo dạng dung dịch tiêm truyền tĩnh mạch. Về chỉ định lâm sàng, liệu pháp phối hợp giữa thuốc này cùng với Cisplatin được áp dụng nhằm mang lại hiệu quả trị liệu cho các nhóm bệnh nhân sau: Người mắc bệnh lý u trung biểu mô màng phổi ác tính chưa qua phẫu thuật. Bệnh nhân gặp tình trạng ung thư phổi không tế bào nhỏ đang ở giai đoạn tiến triển tại chỗ hoặc tế bào ác tính đã di căn đến những cơ quan khác trong cơ thể.
Dữ liệu được ghi nhận vào 2026-08-28T04:04:51.422Z. Dược Hub cung cấp thông tin tham khảo, không bán thuốc trực tuyến và không thay thế tư vấn của bác sĩ hoặc dược sĩ. Giá thuốc và tồn kho không được công bố tại URL này.