← Danh mục thuốc

Thông tin sản phẩm tham khảo

Thuốc hít Breztri 160/7.2/5mcg Astrazeneca giảm co thắt phế quản (120 liều)

Breztri Aerosphere là hỗn dịch nén dưới áp suất dùng để hít gồm 1 túi nhôm chứa bình xịt 120 liều được chỉ định để điều trị duy trì bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD). Tuy nhiên không được chỉ định để giảm co thắt phế quản cấp tính hoặc điều trị hen phế quản. Sản phẩm Breztri Aerosphere được sản xuất bởi Astrazeneca Dunkerque Production (Pháp).

Thương hiệu
Astra
Phân loại
Thuốc kê đơn
Số đăng ký
300110445423
Quy cách/đơn vị
Hộp
Nhà sản xuất
AstraZeneca Dunkerque Production

Công dụng / chỉ định

Chỉ định Breztri Aerosphere được chỉ định để điều trị duy trì bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD). Hạn chế sử dụng: Breztri Aerosphere không được chỉ định để giảm co thắt phế quản cấp tính hoặc điều trị hen phế quản . Dược lực học Nhóm dược lý: Thuốc dùng trong bệnh tắc nghẽn đường hô hấp, là thuốc bao gồm 3 hoạt chất: Hoạt chất cường giao cảm kết hợp với hoạt chất đối vận phó giao cảm và corticosteroid. Mã ATC: R03AL11. Cơ chế tác dụng Breztri Aerosphere chứa budesonid, glycopyrrolat và formoterol fumarat. Cơ chế tác dụng mô tả dưới đây cho từng thành phần được áp dụng cho Breztri Aerosphere. Những hoạt chất này đại diện cho ba nhóm thuốc khác nhau (một corticosteroid tổng hợp, một thuốc kháng cholinergic và một thuốc chủ vận beta, chọn lọc tác dụng dài) có tác động khác nhau lên sinh lý học lâm sàng và các chỉ số viêm trong COPD. Budesonid Budesonid là một corticosteroid kháng viêm có hoạt tính glucocorticoid mạnh và hoạt tính mineralocorticoid yếu. Trong các nghiên cứu in vitro chuẩn hóa và trên mô hình động vật thực nghiệm, budesonid có ái lực cao hơn khoảng 200 lần đối với thụ thể glucocorticoid và có hiệu lực kháng viêm tại chỗ cao gấp 1000 lần so với cortisol (xét nghiệm gây phù tai chuột bằng dầu croton). Hoạt tính kháng viêm toàn thân của budesonid mạnh hơn cortisol 40 lần khi tiêm dưới da và mạnh hơn 25 lần khi dùng đường uống trong thí nghiệm thu nhỏ tuyến ức chuột. Trong các nghiên cứu về ái lực với thụ thể glucocorticoid, đồng phân epimer 22R của budesonid có hoạt tính gấp hai lần so với đồng phân epimer 22S. Các nghiên cứu in vitro cho thấy hai dạng đồng phân này của budesonid không chuyển đổi lẫn nhau. Nền viêm là một cấu phần quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của COPD. Corticosteroid có hoạt tính chống viêm rộng ức chế nhiều loại tế bảo (ví dụ, tế bào mast, bạch cầu ái toan, bạch cầu trung tinh, đại thực bào và tế bào lympho) và chất trung gian hóa học (ví dụ, histamin, eicosanoid, leukotriene và cytokine) tham gia vào các phản ứng viêm liên quan đến dị ứng và viêm không qua trung gian dị ứng. Hoạt tinh kháng viêm của corticosteroid có thể góp phần vào hiệu lực của thuốc. Glycopyrrolat Glycopyrrolat là một hoạt chất khăng muscarinic tác dụng dài, thường được gọi chung là thuốc kháng cholinergic. Glycopyrrolat có ái lực tương tự nhau với các phân nhóm của thụ thể muscarinic từ M1 đến M5. Trên đường thở, tác dụng dược lý của thuốc này được biểu hiện thông qua việc ức chế thụ thể M3 ở cơ trơn, dẫn đến giãn phế quản. Tinh chất cạnh tranh và có thể đảo ngược của tác dụng đối kháng được biểu hiện trên các thụ thể có nguồn gốc từ người và động vật hoặc trên các mô cơ quan được phân tách riêng biệt. Trong các nghiên cứu tiền lâm sàng in vitro và in vivo, tác dụng ngăn ngừa co thắt phế quản gây ra bởi methylcholin và acetylcholin phụ thuộc liều và kéo dài hơn 12 giờ. Ý nghĩa lâm sàng của những phát hiện này vẫn chưa được biết rõ. Tác dụng giãn phế quản sau khi hít glycopyrrolat chủ yếu là tác dụng đặc hiệu tại chỗ. Formoterol fumarat Formoterol fumarat là một thuốc chủ vận beta 2 -adrenergic chọn lọc tác dụng dài và có thời gian khởi phát nhanh. Formoterol fumarat dạng hit tác dụng tại chỗ ở phổi tương tự một thuốc giãn phế quản. Các nghiên cứu in vitro cho thấy formoterol có hoạt tinh chủ vận ở thụ thể beta 2 cao hơn 200 lần so với ở thụ thể beta 1 . Tinh gắn chọn lọc với thụ thể beta 2 hơn beta1 của formoterol cao hơn albuterol (5 lần), trong khi salmeterol có tỷ lệ chọn lọc beta 2 cao hơn (3 lần) so với formoterol trong in vitro. Mặc dù thụ thể beta, là các thụ thể adrenergic chủ yếu ở cơ trơn phế quản và thụ thể beta 2 chủ yếu ở tim, nhưng cũng có thụ thể beta 1 ở tim người chiếm 10% đến 50% tổng số thụ thể beta-adrenergic. Chức năng chính xác của các thụ thể này vẫn chưa được biết đến, nhưng có khả năng các thuốc chủ vận beta, có tính chọn lọc cao cũng có thể có tác dụng trên tim. Tác dụng dược lý của các thuốc chủ vận beta 2 , trong đó có formoterol fumarat, tham gia kích thích một phần adenyl cyclase nội bào, enzym xúc tác chuyển đổi adenosin triphosphat (ATP) thành cyclic-3',5'-adenosin monophosphat (AMP vòng). Nồng độ AMP vòng tăng lên gây giãn cơ trơn phế quản và ức chế giải phóng các chất trung gian hóa học từ tế bảo, đặc biệt là từ tế bào mast, gây ra phản ứng quá mẫn cấp tính. Điện sinh lý tim Nghiên cứu TQT không được thực hiện với Breztri Aerosphere do budesonid không ảnh hưởng lên khoảng QT. Tuy nhiên, khả năng kéo dài khoảng QTc của glycopyrrolat/formoterol fumarat đã được đánh giá trong một thử nghiệm lâm sàng bắt chéo, mù đôi, đơn liều, đối chứng với giả dược và chứng dương trên 69 người khỏe mạnh. Sự khác biệt trung bình lớn nhất của giá trị QTc đã hiệu chính với ban đầu (giới hạn tin cậy trên 90%) sau 2 hít glycopyrrolat/formoterol fumarat 9/4,8 mcg và glycopyrrolat/ formoterol fumarat 72/19,2 mcg so với giả dược, tương ứng là 3,1 (4,7) ms và 7,6 (9,2) ms và không nằm trong ngưỡng liên quan về mặt lâm sàng là 10 ms. Sự tăng nhịp tim phụ thuộc liều cũng đã được ghi nhận. Sự khác biệt trung bình lớn nhất về nhịp tim đã hiệu chỉnh với ban đầu (giới hạn tin cậy trên 90%) so với giả dược là 3,3 (4,9) nhịp/phút và 7,6 (9,5) nhịp/phút được ghi nhận trong vòng 10 phút sau 2 hít tương ứng glycopyrrolat/formoterol fumarat 9/4,8 mcg và glycopyrrolat/formoterol fumarat 72/19,2 mcg. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Ảnh hưởng của Breztri Aerosphere lên nhịp tim ở những bệnh nhân COPD được đánh giá bằng máy Holter 24 giờ ở tuần 16 trong một thử nghiệm kéo dài 52 tuần (Thử nghiệm 1). Quần thể bệnh nhân được theo dõi nhịp tim bằng máy Holter trong Thử nghiệm 1 bao gồm 180 bệnh nhân sử dụng Breztri Aerosphere 320 mcg/18 mcg/9,6 mcg, 160 bệnh nhân sử dụng glycopyrrolat và formoterol fumarat [GFF MDI 18 mcg/9,6 mcg) và 183 bệnh nhân dùng budesonid/formoterol fumarat (BFF MDI 320 mcg/9,6 mcg]. Chưa ghi nhận được tác dụng có ý nghĩa lâm sàng lên nhịp tim. Tác dụng trên trục HPA Ảnh hưởng của Breztri Aerosphere trên trục HPA được đánh giá bằng cách đo nồng độ cortisol trong huyết thanh 24 giờ ở thời điểm ban đầu và ở tuần 24 trên bệnh nhân COPD. Tỷ lệ trung bình (tuần 24/ban đầu) của Breztri Aerosphere 320 mcg/18mcg/9,6mcg và GFF MDI 18 mcg/9,6 mcg lần lượt tương ứng là 0,86 (hệ số biến thiên (CV)=39%) và 0,94 (CV=36,6%). Dược động học Phương trình dược động học tuyến tính đã được chứng minh đối với budesonid (80 đến 320 mcg), glycopyrrolat (18 đến 144 mcg) và formoterol fumarat (2,4 đến 38,4 mcg). Thông tin về dược động học của glycopyrrolat và formoterol fumarat được xác định dựa trên các thành phần mang hoạt tính tương ứng là glycopyrronium và formoterol. Dược động học của budesonid, glycopyrronium và formoterol trong Breztri Aerosphere tương đương với dược động học của budesonid, glycopyrronium và formoterol khi được sử dụng dưới dạng budesonid/formoterol hoặc glycopyrrolat/formoterol trong các nghiên cứu trên người khỏe mạnh (đơn liều) và người mắc COPD (đa liều). Dược động học từng thành phần trong Breztri Aerosphere được trình bày dưới đây. Hấp thu Budesonid: Sau khi bệnh nhân COPD hít Breztri Aerosphere, C max đạt được trong vòng 20 đến 40 phút. Trạng thái ổn định ước tính đạt được sau khoảng 1 ngày dùng liều lặp lại Breztri Aerosphere được xác định thông qua phân tích dược động học quần thể và AUC 0-12 cao hơn khoảng 1,3 lần so với sau liều đầu tiên. Glycopyrrolat: Sau khi bệnh nhân COPD hít Breztri Aerosphere, C max đạt được trong vòng 2 đến 6 phút. Trạng thái ổn định ước tính đạt được sau khoảng 3 ngày dùng liều lặp lại Breztri Aerosphere thông qua phân tích dược động học quần thể và AUC cao hơn khoảng 1,8 lần so với sau liều đầu tiên. Formoterol Fumarat: Sau khi bệnh nhân COPD hít Breztri Aerosphere, Cmax đạt được trong vòng 20 đến 60 phút. Trạng thái ổn định ước tính đạt được sau khoảng 2 ngày dùng liều lặp lại Breztri Aerosphere thông qua phân tích dược động học quần thể và AUC 0-12 cao hơn khoảng 1,4 lần so với sau liều đầu tiên. Phân bố Budesonid: Thể tích phân bố biểu kiến ước tính của budesonid ở trạng thái ổn định trên bệnh nhân COPD là khoảng 1200 L, thông qua phân tích dược động học quần thể. Trong khoảng nồng độ 1-100 nmol/l, tỷ lệ liên kết với protein huyết tương của budesonid trung bình dao động từ 86% đến 87%. Glycopyrrolat: Thế tích phân bố biểu kiến ước tính của glycopyrronium ở trạng thái ổn định trên bệnh nhân COPD là khoảng 5500 L, thông qua phân tích được động học quần thể. Trong khoảng nồng độ 2-500 nmol/l, tỷ lệ liên kết với protein huyết tương của glycopyrronium dao động từ 43% đến 54%. Formoterol fumarat: Thể tích phân bố biểu kiến ước tính của formoterol ở trạng thái ổn định trên bệnh nhân COPD là khoảng 2400 L, thông qua phân tích được động học quần thể. Trong khoảng nồng độ 10 - 500 nmol/l, tỷ lệ liên kết với protein huyết tương của formoterol dao động từ 46% đến 58%. Thải trừ Budesonid: Budesonid được bài tiết qua nước tiểu và phân dưới dạng chất chuyển hóa. Chỉ một lượng không đáng kể Budesonid chưa chuyển hóa được phát hiện trong nước tiểu. Thời gian bán thải hiệu quả của budesonid ở những người mắc COPD là khoảng 5 giờ, được trích xuất từ phân tích dược động học quần thể. Glycopyrrolat: Sau khi tiêm tĩnh mạch một liều 0,2 mg glycopyrronium đánh dấu phóng xạ, 85% thuốc có mặt trong nước tiểu sau 48 giờ và một chút hoạt đỏ phóng xạ cũng được tìm thấy trong mật. Thời gian bán thải hiệu quả của glycopyrronium ở những bệnh nhân mắc COPD là khoảng 15 giờ, theo phân tích dược động học quần thể. Formoterol fumarat: Sự bài tiết của formoterol đã được nghiên cứu trên 6 người khỏe mạnh sau khi sử dụng đồng thời formoterol đánh dấu phóng xạ qua đường uống và đường tĩnh mạch. Trong nghiên cứu này, 62% liều thuốc của formoterol liên kết với hoạt độ phóng xạ được bài tiết qua nước tiểu trong khi 24% được thải trừ qua phân. Thời gian bán thải có hiệu quả của fommoterol ở những bệnh nhân mắc COPD là khoảng 10 giờ, theo phân tích dược động học quần thể. Chuyển hóa Budesonid: Các nghiên cứu in vitro với dịch treo mô đồng thể gan người cho thấy budesonid được chuyển hóa nhiều và nhanh chóng qua gan. Hai chất chuyển hóa chính của budesonid được hình thành thông qua quá trình chuyển hóa sinh học nhờ xúc tác của CYP3A4, đã được phân lập và xác định là 16α-hydroxyprednisolon và 6ß-hydroxybudesonid. Hoạt tính corticosteroid của mỗi chất chuyển hóa này đều ít hơn 1% hoạt chất gốc. Chưa phát hiện thấy sự khác nhau về chất giữa các kiểu chuyển hóa in vitro và in vivo. Sự bất hoạt chuyển hóa đã được ghi nhận không đáng kể trên phổi người và các chế phẩm huyết thanh. Glycopyrrolat: Dựa trên y văn hiện có và từ nghiên cứu in vitro trên tế bào gan người cho thấy chuyển hóa đóng một vai trò nhỏ trong quá trình đảo thải glycopyrronium nói chung. CYP2D6 là enzym chủ yếu tham gia vào quá trình chuyển hóa glycopyrronium. Formoterol fumarat: Con đường chuyển hóa chính của formoterol là glucuronid hóa trực tiếp và qua phản ứng khử methy ở vị trí O-, sau đó liên hợp thành các chất chuyển hóa không có hoạt tính. Các con đường trao đổi chất thứ cấp bao gồm khử nhóm formyl và liên hợp sulfat. CYP2D6 và CYP2C đã được xác định là enzym chính xúc tác cho quá trình khử method ở vị trí O-.

Thành phần

Budesonide 160mcg, Glycopyrronium 7.2mcg, Formoterol fumarat dihydrat 5mcg

Cách dùng

Cách dùng Chuẩn bị Khởi động bình xịt Breztri Aerosphere trước khi sử dụng lần đầu tiên. Khởi động bình xịt là cần thiết để đảm bảo lượng thuốc thích hợp ở mỗi liều xịt. Khởi động bình xịt Breztri Aerosphere bằng cách xịt 4 lần vào vùng không khí cách xa mặt, lắc kỹ trước mỗi lần xịt thuốc. Nếu bình xịt không được dùng trong hơn 7 ngày, bình xịt bị rơi hoặc sau khi rửa sạch hàng tuần, khởi động lại bình xịt bằng cách xịt 2 lần vào không khí cách xa mặt, lắc kỹ trước mỗi lần xịt thuốc. Bộ phận đếm liều thuốc Bình chứa thuốc Breztri Aerosphere có kèm theo bộ phận xác định liều, cho biết số lượng liều xịt còn lại sau mỗi lần sử dụng. Màn hình báo liều dùng có một vạch chỉ thị liều sẽ dịch chuyển sau mỗi lần xịt. Khi vạch chỉ thị liều nằm trong vùng vàng tức là đã gần hết số liều thuốc có thể sử dụng. Không sử dụng Breztri Aerosphere khi vạch chỉ thị liều đã nằm ở vị trí vạch 0 trong vùng màu đỏ. Liều dùng Liều Breztri Aerosphere khuyến cáo là budesonid 320 mcg, glycopyrrolat 18 mcg và formoterol fumarat 9,6 mcg (tương ứng 2 hít Breztri Aerosphere [budesonid/glycopyrrolat/formoterol fumarat 160 mcg/9 mcg/4,8 mcg]) hai lần mỗi ngày, vào buổi sáng và tối qua đường hít bằng miệng. Không sử dụng nhiều hơn hai hít hai lần mỗi ngày. Súc miệng bằng nước sau khi hít thuốc nhưng không nuốt. Lưu ý: Liều dùng trên chỉ mang tính chất tham khảo. Liều dùng cụ thể tùy thuộc vào thể trạng và mức độ diễn tiến của bệnh. Để có liều dùng phù hợp, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên viên y tế. Làm gì khi dùng quá liều? Chưa có báo cáo về quá liều khi sử dụng Breztri Aerosphere. Breztri Aerosphere chứa budesonid, glycopyrrolat và formoterol fumarat; do đó, các nguy cơ liên quan đến quá liều đối với từng thành phần riêng lẻ được mô tả dưới đây áp dụng cho Breztri Aerosphere. Các biện pháp xử trí quá liều bao gồm ngừng Breztri Aerosphere phối hợp với điều trị triệu chứng và/hoặc điều trị hỗ trợ phù hợp. Có thể cân nhắc sử dụng thuốc chẹn thụ thể beta chọn lọc trên tim nhưng cần lưu ý rằng thuốc này có thể gây co thắt phế quản. Ảnh hưởng trên tim mạch cần được theo dõi trong trường hợp quá liều. Budesonid Nếu sử dụng liều quá cao kéo dài, có thể xảy ra các tác dụng toàn thân của corticosteroid, như cường vỏ thượng thận. Glycopyrrolat Liều cao glycopyrrolat, một thành phần của Breztri Aerosphere, có thể dẫn đến các dấu hiệu và triệu chứng kháng cholinergic như buồn nôn, nôn, chóng mặt, choáng váng, nhìn mờ, tăng nhãn áp (gây đau, rối loạn thị lực hoặc đỏ mắt), táo bón nặng hoặc bí tiểu. Formoterol fumarat Quá liều formoterol fumarat có thể dẫn đến các phản ứng quá mức điển hình đối với thuốc chủ vận beta 2 : Co giật , đau thắt ngực, tăng huyết áp, hạ huyết áp, nhịp tim nhanh, loạn nhịp nhanh nhĩ và thất, căng thẳng, đau đầu, run, đánh trống ngực, chuột rút, buồn nôn, chóng mặt, rối loạn giấc ngủ, toan chuyển hóa, tăng đường huyết, hạ kali máu. Tương tự như tất cả các thuốc cường giao cảm, ngừng tim và thậm chí tử vong có thể liên quan đến việc sử dụng quá liều formoterol fumarat. Trong trường hợp khẩn cấp, hãy gọi ngay cho Trung tâm cấp cứu 115 hoặc đến trạm Y tế địa phương gần nhất. Làm gì khi quên 1 liều? Bổ sung liều ngay khi nhớ ra. Tuy nhiên, nếu thời gian giãn cách với liều tiếp theo quá ngắn thì bỏ qua liều đã quên và tiếp tục lịch dùng thuốc. Không dùng liều gấp đôi để bù cho liều đã bị bỏ lỡ.

Lưu ý và cảnh báo

Những điều cần lưu ý khi sử dụng Người dùng cần tìm hiểu kỹ hướng dẫn đi kèm và các thông tin chi tiết dưới đây trước khi bắt đầu trị liệu. Trường hợp không nên sử dụng Nghiêm cấm chỉ định Breztri Aerosphere cho những trường hợp có tiền sử dị ứng hoặc quá mẫn với các hoạt chất budesonid, glycopyrrolat, Formoterol hay bất kỳ thành phần tá dược nào có trong công thức thuốc. Cảnh báo và thận trọng Nguy cơ nghiêm trọng từ hen phế quản (nhập viện, đặt nội khí quản, tử vong) Chưa có dữ liệu chứng minh hiệu quả lâm sàng và độ an toàn của Breztri Aerosphere đối với người bị hen phế quản, do đó sản phẩm này không được cấp phép để điều trị bệnh lý này. Việc đơn trị liệu bằng thuốc chủ vận beta-adrenergic tác dụng kéo dài (LABA) mà không kết hợp corticosteroid dạng hít (ICS) ở người hen phế quản sẽ làm tăng tỷ lệ tử vong do hen. Các nghiên cứu lâm sàng có đối chứng cũng chỉ ra rằng dùng LABA đơn độc khiến trẻ em và thanh thiếu niên dễ phải nhập viện hơn vì hen phế quản. Đây là tác động bất lợi chung của nhóm LABA khi dùng đơn lẻ. Ngược lại, khi phối hợp cố định LABA và ICS, các thử nghiệm quy mô lớn ghi nhận không có sự gia tăng đáng kể các biến cố nguy kịch (nhập viện, đặt nội khí quản, tử vong) so với việc chỉ dùng ICS đơn trị. Đối với người mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), các dữ liệu hiện tại chưa cho thấy LABA làm tăng nguy cơ tử vong. Tình trạng COPD chuyển biến xấu và các đợt cấp Không dùng Breztri Aerosphere làm liệu pháp khởi đầu cho người đang trong đợt cấp COPD nặng đe dọa đến tính mạng do chưa có nghiên cứu lâm sàng trên nhóm đối tượng này. Thuốc không có tác dụng cắt cơn co thắt phế quản cấp hoặc giảm nhanh các triệu chứng cấp tính. Không tự ý tăng liều Breztri Aerosphere cho mục đích này. Bệnh nhân cần dùng thuốc hít chủ vận beta₂ tác dụng ngắn để xử trí các biểu hiện cấp tính. Khi bắt đầu phác đồ Breztri Aerosphere, người bệnh đang có thói quen dùng thuốc hít chủ vận beta₂ tác dụng ngắn định kỳ (chẳng hạn 4 lần mỗi ngày) phải dừng việc dùng thường quy này, chỉ sử dụng chúng khi phát sinh cơn khó thở cấp. Bác sĩ cần kê đơn sẵn thuốc cắt cơn này và hướng dẫn cách dùng cho bệnh nhân. Tần suất dùng thuốc cắt cơn tăng lên là dấu hiệu cảnh báo bệnh trở nặng, cần được can thiệp y tế ngay. Bệnh COPD có thể chuyển biến xấu đột ngột trong vài giờ hoặc diễn tiến chậm hơn qua nhiều ngày. Nếu Breztri Aerosphere giảm hiệu quả kiểm soát, hoặc thuốc cắt cơn kém tác dụng, hoặc người bệnh phải tăng liều hít cắt cơn so với ngày thường, chứng tỏ bệnh đang xấu đi. Lúc này, cần tiến hành đánh giá lại thể trạng bệnh nhân và điều chỉnh phác đồ điều trị COPD. Tuyệt đối không dùng quá liều Breztri Aerosphere hàng ngày so với mức khuyến cáo. Phòng ngừa quá liều và tránh phối hợp trùng lặp nhóm LABA Để tránh nguy cơ quá liều, không tự ý tăng tần suất hay liều lượng Breztri Aerosphere vượt quá chỉ định, và không dùng chung với các thuốc chứa LABA khác. Việc lạm dụng các thuốc cường giao cảm dạng hít có thể dẫn đến các biến cố tim mạch nghiêm trọng, thậm chí tử vong. Người đang điều trị bằng Breztri Aerosphere không được sử dụng thêm bất kỳ chế phẩm nào chứa LABA (như salmeterol, formoterol fumarat, arformoterol tartrat, indacaterol). Nhiễm nấm Candida vùng hầu họng Do chứa thành phần ICS budesonid, thuốc có thể gây nhiễm nấm Candida albicans tại khoang miệng và họng. Nếu xuất hiện tình trạng này, cần điều trị bằng thuốc kháng nấm (đường bôi tại chỗ hoặc đường uống) và vẫn tiếp tục dùng Breztri Aerosphere. Một số trường hợp đặc biệt có thể phải tạm dừng thuốc hít này. Để phòng ngừa, người bệnh nên súc miệng sạch bằng nước và nhổ ra (không nuốt) sau mỗi lần hít thuốc. Biến chứng viêm phổi Sử dụng corticosteroid dạng hít làm tăng nguy cơ nhiễm trùng hô hấp dưới, bao gồm viêm phổi. Bác sĩ cần theo dõi sát sao vì các biểu hiện của viêm phổi dễ bị nhầm lẫn với đợt cấp COPD. Trong một nghiên cứu kéo dài 52 tuần trên 8529 bệnh nhân COPD, tỷ lệ mắc viêm phổi được xác định là: 4,2% ở nhóm dùng Breztri Aerosphere liều 320 mcg/18 mcg/9,6 mcg (n = 2144). 3,5% ở nhóm dùng phối hợp budesonid, glycopyrrolat và formoterol fumarat [BGF MDI 160 mcg/18 mcg/9,6 mcg] (n = 2124). 2,3% ở nhóm dùng GFF MDI 18 mcg/9,6 mcg (n = 2125). 4,5% ở nhóm dùng BFF MDI 320 mcg/9,6 mcg (n = 2136). Tử vong do viêm phổi ghi nhận ở 2 ca thuộc nhóm BGF MDI 160 mcg/18 mcg/9,6 mcg, 3 ca thuộc nhóm GFF MDI 18 mcg/9,6 mcg và 0 ca ở nhóm Breztri Aerosphere 320 mcg/18 mcg/9,6 mcg. Trong một nghiên cứu khác kéo dài 24 tuần trên 1896 bệnh nhân COPD, tỷ lệ viêm phổi là: 1,9% ở nhóm dùng Breztri Aerosphere 320 mcg/18 mcg/9,6 mcg (n = 639). 1,6% ở nhóm dùng glycopyrrolat và formoterol fumarat [GFF MDI 18 mcg/9,6 mcg] (n = 625). 1,9% ở nhóm dùng budesonid và formoterol fumarat [BFF MDI 320 mcg/9,6 mcg] (n = 320). Không có trường hợp tử vong do viêm phổi nào được ghi nhận trong thử nghiệm này. Ức chế miễn dịch và nguy cơ nhiễm khuẩn Thuốc ức chế miễn dịch làm tăng tính nhạy cảm với các tác nhân gây bệnh. Các bệnh truyền nhiễm như thủy đậu hay sởi có thể diễn tiến rất nặng hoặc gây tử vong ở người dùng corticosteroid chưa có miễn dịch. Đối tượng chưa từng mắc hoặc chưa tiêm phòng các bệnh này cần tránh tiếp xúc với nguồn lây. Hiện chưa rõ mối liên hệ giữa liều lượng, đường dùng, thời gian dùng corticosteroid hay bệnh lý nền đối với nguy cơ nhiễm trùng lan tỏa. Nếu lỡ tiếp xúc với thủy đậu, có thể dự phòng bằng immunoglobulin varicella zoster (VZIG); nếu tiếp xúc với sởi, dùng immunoglobulin (IG) tiêm bắp (tham khảo tờ hướng dẫn của VZIG và IG). Khi đã phát bệnh thủy đậu, cần xem xét điều trị bằng thuốc kháng virus. Cần hết sức thận trọng khi dùng ICS cho người bị lao phổi (tiến triển hoặc tiềm ẩn), người nhiễm nấm, vi khuẩn, virus, ký sinh trùng toàn thân chưa được điều trị, hoặc bị herpes simplex ở mắt. Chuyển đổi từ corticosteroid đường toàn thân sang đường hít Suy giảm chức năng tuyến thượng thận (ức chế trục HPA) Quá trình chuyển đổi từ corticosteroid toàn thân sang ICS tiềm ẩn nguy cơ tử vong do suy thượng thận cấp, bởi ICS có tác dụng toàn thân thấp hơn. Hệ trục HPA cần nhiều tháng để phục hồi chức năng tự nhiên sau khi ngừng thuốc toàn thân. Nguy cơ cao nhất thuộc về nhóm bệnh nhân từng dùng liều duy trì prednison từ 20 mg trở lên mỗi ngày (hoặc tương đương), nhất là khi vừa ngừng thuốc toàn thân đột ngột. Khi trục HPA đang bị ức chế, các yếu tố stress như chấn thương, phẫu thuật, nhiễm trùng (đặc biệt là viêm dạ dày ruột) hoặc mất điện giải nặng có thể kích hoạt cơn suy thượng thận cấp. Dù kiểm soát tốt COPD, Breztri Aerosphere ở liều khuyến cáo chỉ giải phóng lượng glucocorticoid toàn thân thấp hơn mức sinh lý và không cung cấp đủ hoạt tính mineralocorticoid cần thiết để cơ thể chống chọi với các tình trạng stress cấp tính nêu trên. Khi gặp stress hoặc đợt cấp COPD nặng, bệnh nhân đã ngưng corticoid toàn thân cần lập tức dùng lại corticoid đường uống liều cao và liên hệ ngay với bác sĩ. Người bệnh nên mang theo thẻ cảnh báo y tế về việc cần bổ sung corticosteroid toàn thân trong các tình huống khẩn cấp này. Việc giảm liều corticosteroid đường uống sau khi chuyển sang Breztri Aerosphere phải thực hiện từ từ. Cụ thể, giảm dần prednison với nhịp độ 2,5 mg mỗi ngày trong vòng 1 tuần, song song với việc duy trì hít Breztri Aerosphere. Trong giai đoạn này, cần theo dõi chặt chẽ chức năng hô hấp (FEV₁ hoặc PEF buổi sáng), tần suất dùng thuốc cắt cơn, các triệu chứng COPD và các biểu hiện suy thượng thận (mệt mỏi, uể oải, yếu cơ, buồn nôn, nôn, tụt huyết áp). Tái phát các bệnh dị ứng Khi ngừng corticoid toàn thân để chuyển sang Breztri Aerosphere, các bệnh lý dị ứng từng được kiểm soát trước đó có thể bùng phát trở lại (như viêm mũi, viêm kết mạc, chàm, viêm khớp, tăng bạch cầu ái toan). Hội chứng cai thuốc Dù chức năng hô hấp ổn định hoặc tiến triển tốt, một số người vẫn có thể gặp hội chứng cai corticosteroid (đau cơ, đau khớp, mệt mỏi, trầm cảm) khi ngưng dạng thuốc uống. Hội chứng Cushing và suy tuyến thượng thận Budesonid dạng hít vẫn hấp thu vào máu và có khả năng gây tác động toàn thân. Ở liều điều trị thông thường của Breztri Aerosphere, tác động ức chế trục HPA chưa được ghi nhận. Tuy nhiên, nếu dùng quá liều hoặc phối hợp với chất ức chế mạnh CYP3A4, chức năng trục HPA có thể bị rối loạn. Do thuốc có hấp thu vào tuần hoàn, cần giám sát chặt chẽ các biểu hiện toàn thân của corticoid trên bệnh nhân, đặc biệt là khả năng đáp ứng kém của tuyến thượng thận sau phẫu thuật hoặc khi gặp stress. Một số ít người nhạy cảm có thể xuất hiện hội chứng cường vỏ thượng thận hoặc ức chế thượng thận (gồm cả suy thượng thận cấp), đòi hỏi phải có biện pháp can thiệp kịp thời. Tương tác với chất ức chế mạnh CYP3A4 Tránh phối hợp dài ngày Breztri Aerosphere với ketoconazol hoặc các chất ức chế mạnh CYP3A4 khác (như ritonavir, atazanavir, clarithromycin, indinavir, itraconazol, nefazodon, nelfinavir, saquinavir, telithromycin) vì nguy cơ tăng nồng độ budesonid trong máu gây ra các tác dụng phụ toàn thân. Co thắt phế quản nghịch thường Tương tự các liệu pháp xịt hít khác, Breztri Aerosphere có thể gây co thắt phế quản nghịch thường đe dọa tính mạng ngay sau khi dùng. Nếu xảy ra, phải lập tức dùng thuốc giãn phế quản tác dụng ngắn để cắt cơn, ngừng ngay Breztri Aerosphere và chuyển sang phương pháp điều trị khác. Phản ứng quá mẫn cấp tính Đã có báo cáo về các phản ứng dị ứng cấp tính do budesonid, glycopyrrolat hoặc formoterol fumarat. Khi xuất hiện dấu hiệu quá mẫn như phù mạch (sưng mặt, môi, lưỡi, gây khó thở hoặc khó nuốt), nổi mày đay, phát ban, phải dừng thuốc ngay và tìm giải pháp thay thế. Tác động trên hệ tim mạch Thành phần formoterol fumarat (thuộc nhóm chủ vận beta₂) có thể gây ra các phản ứng tim mạch biểu hiện trên lâm sàng như tăng nhịp tim, tăng huyết áp (tâm thu/tâm trương), loạn nhịp tim (nhịp nhanh trên thất, ngoại tâm thu). Nếu xảy ra các triệu chứng này, có thể cần ngừng Breztri Aerosphere. Nhóm thuốc chủ vận beta cũng có thể làm thay đổi điện tâm đồ (sóng T dẹt, kéo dài khoảng QTc, ST chênh xuống) dù ý nghĩa lâm sàng chưa rõ ràng. Cần thận trọng khi dùng thuốc cho người có bệnh lý tim mạch như suy mạch vành, loạn nhịp tim, tăng huyết áp. Ảnh hưởng đến mật độ xương (BMD) Sử dụng ICS kéo dài có liên quan đến việc suy giảm mật độ khoáng trong xương (BMD), dù mức độ ảnh hưởng đến nguy cơ gãy xương lâu dài chưa được làm rõ. Cần đánh giá BMD trước khi dùng thuốc và theo dõi định kỳ cho những người có nguy cơ cao (bất động lâu ngày, gia đình có tiền sử loãng xương, phụ nữ hậu mãn kinh, người cao tuổi, hút thuốc, dinh dưỡng kém, hoặc dùng thuốc làm giảm xương như thuốc chống co giật, corticoid uống). Nếu BMD giảm mạnh nhưng Breztri Aerosphere vẫn là thuốc thiết yếu để trị COPD, cần cân nhắc dùng thêm thuốc điều trị hoặc phòng ngừa loãng xương. Trong một nghiên cứu 24 tuần (theo dõi an toàn thêm 28 tuần) trên một nhóm nhỏ bệnh nhân COPD, ảnh hưởng của Breztri Aerosphere 320/18/9,6 mcg và GFF MDI 18/9,6 mcg lên BMD được đo bằng phương pháp DEXA tại thời điểm ban đầu và sau 52 tuần. Kết quả thay đổi trung bình so với ban đầu lần lượt là - 0,1% ở nhóm Breztri Aerosphere 320/18/9,6 mcg và 0,4% ở nhóm GFF MDI 18/9,6 mcg. Biến chứng về mắt (Glaucom, đục thủy tinh thể) Đã có báo cáo về tình trạng tăng nhãn áp, glaucom và đục thủy tinh thể ở bệnh nhân COPD dùng ICS hoặc thuốc kháng cholinergic dạng hít kéo dài. Cần thận trọng khi dùng Breztri Aerosphere cho người bị glaucom góc đóng. Bác sĩ và người bệnh cần cảnh giác với các triệu chứng của glaucom góc đóng cấp tính (đau/khó chịu ở mắt, nhìn mờ, thấy quầng sáng, đỏ mắt do sung huyết kết mạc/phù giác mạc). Bệnh nhân cần đi khám ngay nếu gặp các dấu hiệu này. Nên khám mắt định kỳ nếu dùng thuốc lâu dài. Trong thử nghiệm 52 tuần so sánh Breztri Aerosphere 320/18/9,6 mcg, GFF MDI 18/9,6 mcg và BFF MDI 320/9,6 mcg trên bệnh nhân COPD, tỷ lệ đục thủy tinh thể được ghi nhận dao động từ 0,7% đến 1,0% giữa các nhóm. Bí tiểu tiến triển nặng Do có hoạt tính kháng cholinergic, Breztri Aerosphere cần được dùng thận trọng cho người có tiền sử bí tiểu. Cần cảnh giác với các dấu hiệu phì đại tuyến tiền liệt hoặc tắc nghẽn cổ bàng quang (khó tiểu, tiểu đau), đặc biệt ở người đã có sẵn các bệnh lý này, và hướng dẫn họ đi khám ngay khi có triệu chứng. Các bệnh lý đồng mắc khác Thận trọng khi dùng thuốc cho người bị rối loạn co giật, nhiễm độc giáp hoặc nhạy cảm với các amin cường giao cảm. Việc tiêm tĩnh mạch albuterol (một thuốc chủ vận beta₂ khác) từng được ghi nhận làm trầm trọng thêm bệnh tiểu đường và tăng nguy cơ nhiễm toan ceton. Hạ kali máu và tăng đường huyết Thuốc chủ vận beta-adrenergic có thể gây hạ kali máu tạm thời (qua cơ chế dịch chuyển kali vào trong tế bào), dễ dẫn đến các tác động xấu lên tim mạch nhưng thường tự hồi phục mà không cần bù kali. Nhóm thuốc này cũng có thể gây tăng đường huyết thoáng qua. Cảnh báo và thận trọng Trẻ em Thuốc không dành cho trẻ em. Hiệu quả và độ an toàn của Breztri Aerosphere ở đối tượng nhi khoa chưa được thiết lập. Người cao tuổi Không cần điều chỉnh liều lượng ở người cao tuổi, dù một số cá nhân có thể nhạy cảm hơn với thuốc. Trong các thử nghiệm lâm sàng (Thử nghiệm 1 và 2), có lần lượt 1100 và 343 bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên đã sử dụng Breztri Aerosphere 320 mcg/18 mcg/9,6 mcg với tần suất hai lần mỗi ngày. Kết quả cho thấy không có sự khác biệt về độ an toàn hay hiệu quả so với nhóm bệnh nhân trẻ tuổi. Bệnh nhân suy gan Chưa có nghiên cứu dược động học chính thức trên nhóm này. Vì budesonid và formoterol fumarat chuyển hóa chủ yếu qua gan, suy giảm chức năng gan có thể làm tăng nồng độ thuốc trong máu. Cần giám sát chặt chẽ người bị suy gan nặng. Bệnh nhân suy thận Chưa có nghiên cứu dược động học chính thức trên nhóm này. Đối với người suy thận nặng (độ thanh thải creatinin ≤ 30 ml /phút/1,73m²) hoặc suy thận giai đoạn cuối phải lọc máu, chỉ dùng Breztri Aerosphere khi lợi ích vượt trội hơn nguy cơ. Sử dụng trong thai kỳ Chưa có đầy đủ dữ liệu kiểm soát tốt về việc dùng Breztri Aerosphere hoặc hai hoạt chất glycopyrrolat, formoterol fumarat trên phụ nữ mang thai; tuy nhiên đã có dữ liệu đối với budesonid. Budesonid: Nghiên cứu trên động vật cho thấy budesonid tiêm dưới da gây dị tật thai, chết phôi và giảm cân nặng thai ở chuột và thỏ với liều tương đương 0,3 và 0,75 lần liều hít tối đa khuyến cáo ở người (MRHDID). Tuy nhiên, không thấy tác động này ở chuột dùng liều hít gấp 4 lần MRHDID. Các nghiên cứu dịch tễ học ở phụ nữ mang thai dùng budesonid dạng hít đơn độc chưa ghi nhận sự gia tăng dị tật bẩm sinh. Động vật gặm nhấm nhạy cảm với tác dụng gây quái thai của corticoid hơn con người. Formoterol fumarat: Dùng đường uống đơn độc cho chuột và thỏ gây dị tật thai ở liều gấp lần lượt 1500 và 61.000 lần MRHDID. Hoạt chất này cũng gây chết phôi, tăng tỷ lệ tử vong sơ sinh/trong kỳ bú mẹ, và giảm cân nặng chuột con ở liều gấp 110 lần MRHDID (các tác dụng này liên quan đến nồng độ toàn thân rất cao khi dùng đường uống). Ngược lại, không ghi nhận bất thường nào ở chuột dùng liều hít lên đến 350 lần MRHDID. Glycopyrrolat: Tiêm dưới da cho chuột và thỏ không gây dị tật hay ảnh hưởng đến sự sống của thai ở liều gấp lần lượt khoảng 2700 lần và 5400 lần MRHDID. Thuốc cũng không ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, hành vi của chuột con ở liều gấp 2700 lần MRHDID. Tỷ lệ dị tật bẩm sinh nặng và sảy thai tự nhiên trong thai kỳ bình thường tại Mỹ lần lượt là 2% - 4% và 15% - 20% . Cân nhắc lâm sàng: Chưa có nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc đến quá trình chuyển dạ. Do thuốc chủ vận beta có thể ức chế co bóp tử cung, chỉ dùng Breztri Aerosphere khi sinh nếu lợi ích vượt trội nguy cơ. Sử dụng khi đang cho con bú Chưa rõ thuốc có bài tiết vào sữa mẹ hay ảnh hưởng đến trẻ bú mẹ và sự tiết sữa hay không. Budesonid dạng hít có bài tiết qua sữa mẹ. Formoterol fumarat và glycopyrrolat được tìm thấy trong máu của chuột con bú mẹ có dùng thuốc. Trong nghiên cứu độc tính trên chuột, nồng độ glycopyrrolat trong huyết tương chuột con vào ngày thứ 4 sau sinh đạt mức tối đa bằng 6% so với liều của chuột mẹ là 10 mg /kg/ngày (cụ thể: nồng độ ở con là 96 ng/ml sau 1 giờ dùng thuốc, tương ứng nồng độ ở mẹ là 1610 ng/ml sau 0,5 giờ dùng thuốc). Cần cân nhắc giữa lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ và nhu cầu điều trị của người mẹ. Ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc Thuốc hầu như không ảnh hưởng đến khả năng lái xe hay vận hành máy. Tuy nhiên, người dùng cần lưu ý tác dụng phụ ít gặp là chóng mặt khi thực hiện các hoạt động này. Tương tác với thuốc khác Chưa có thử nghiệm tương tác thuốc chính thức nào được thực hiện với Breztri Aerosphere. Chất ức chế Cytochrom P450 3A4 Budesonid chuyển hóa chủ yếu qua CYP3A4. Dùng chung với ketoconazol (chất ức chế mạnh CYP3A4) đường uống làm tăng nồng độ budesonid trong máu. Cần thận trọng khi phối hợp Breztri Aerosphere với ketoconazol hoặc các chất ức chế mạnh CYP3A4 khác (như ritonavir, atazanavir, clarithromycin, indinavir, itraconazol, nefazodon, nelfinavir, saquinavir, telithromycin). Thuốc kích thích hệ adrenergic Thận trọng khi dùng thêm bất kỳ thuốc cường giao cảm nào vì có thể làm cộng lực tác dụng của Formoterol . Dẫn xuất xanthin, steroid hoặc thuốc lợi tiểu Sự kết hợp này có thể làm trầm trọng thêm tình trạng hạ kali máu do tác dụng của các thuốc chủ vận beta₂-adrenergic như Formoterol . Thuốc lợi tiểu không giữ kali Nguy cơ hạ kali máu và thay đổi điện tâm đồ do thuốc lợi tiểu quai hoặc thiazid có thể tăng lên khi dùng chung với thuốc chủ vận beta, đặc biệt là khi dùng quá liều khuyến cáo. Thuốc ức chế MAO, thuốc chống trầm cảm ba vòng, thuốc kéo dài QTc Cần hết sức thận trọng khi dùng Breztri Aerosphere cho người đang dùng các thuốc này vì chúng làm tăng độc tính trên tim mạch của thuốc cường giao cảm và tăng nguy cơ loạn nhịp thất. Thuốc chẹn thụ thể beta-adrenergic Thuốc chẹn beta và Breztri Aerosphere đối kháng tác dụng của nhau. Thuốc chẹn beta không chỉ làm mất hiệu quả của thuốc chủ vận beta mà còn có thể gây co thắt phế quản nặng ở người COPD. Do đó, tránh dùng nhóm thuốc này cho bệnh nhân COPD trừ trường hợp bắt buộc không có giải pháp thay thế (như dự phòng sau nhồi máu cơ tim), khi đó nên chọn loại chẹn beta chọn lọc trên tim và dùng thật thận trọng. Thuốc kháng cholinergic Tránh dùng đồng thời Breztri Aerosphere với các thuốc kháng cholinergic khác để ngăn ngừa tương tác hiệp đồng làm gia tăng các tác dụng phụ.

Mô tả chi tiết

Thuốc hít Breztri 160/7.2/5mcg Astrazeneca là gì? Breztri Aerosphere là dược phẩm dạng hỗn dịch nén áp suất dùng qua đường hít, được đóng gói trong bình xịt chứa sẵn 120 liều và bảo quản bằng túi nhôm bảo vệ. Thuốc do công ty Astrazeneca Dunkerque Production (Pháp) trực tiếp sản xuất. Chỉ định và phạm vi điều trị Công dụng chính: Thuốc được áp dụng trong liệu trình điều trị duy trì dài hạn cho những bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD). Chống chỉ định/Không áp dụng: Sản phẩm này không có tác dụng cắt cơn co thắt phế quản cấp tính và không được dùng trong việc điều trị bệnh lý hen phế quản.

Dữ liệu được ghi nhận vào 2026-08-28T04:04:51.422Z. Dược Hub cung cấp thông tin tham khảo, không bán thuốc trực tuyến và không thay thế tư vấn của bác sĩ hoặc dược sĩ. Giá thuốc và tồn kho không được công bố tại URL này.