Bột pha hỗn dịch uống Cefixim 100mg vidipha điều trị nhiễm khuẩn (10 gói x 2g)
Thuốc Cefimbrano 100 là sản phẩm của Dược phẩm Vidiphar, chứa thành phần chính là Cefixim. Thuốc dùng để điều trị các nhiễm khuẩn do các chủng vi khuẩn nhạy cảm gây ra.
- Thương hiệu
- Vidipha
- Phân loại
- Thuốc kê đơn
- Số đăng ký
- VD-29179-18
- Quy cách/đơn vị
- Hộp
- Nhà sản xuất
- Chi nhánh công ty cổ phần dược phẩm Trung ương Vidipha Bình Dương
Công dụng / chỉ định
Chỉ định Điều trị các nhiễm khuẩn do các chủng vi khuẩn nhạy cảm gây ra, bao gồm: Đường hô hấp trên: Viêm họng và viêm amiđan do S. pyogenes. Tai giữa: Viêm tai giữa do S. pneumoniae, H. influenzae (kể cả chủng tiết beta-lactamase), M. catarrhalis (B. catarrhalis) (kể cả chủng tiết beta-lactamase) và S. pyogenes. Xoang cạnh mũi: Viêm xoang do S. pneumoniae, H. influenzae (kể cả chủng tiết beta-lactamase), và M. catarrhalis (B. catarrhalis) (kể cả chủng tiết beta-lactamase). Đường hô hấp dưới: Viêm phế quản cấp tính do S. pneumoniae, M. catarrhalis (B. catarrhalis) (kể cả chủng tiết beta-lactamase) và H. influenzae (kể cả chủng tiết beta-lactamase). Đường tiết niệu: Viêm bàng quang và viêm niệu đạo không biến chứng cấp tính do E. coli, P. mirabilis và Klebsiella. Bệnh lậu không biến chứng: Bệnh lậu không biến chứng (cổ tử cung/niệu đạo và trực tràng) gây ra bởi Neisseria gonorrhoeae, bao gồm penicillinase (chủng tiết beta-lactamase) và nonpenicillinase (chủng không tiết beta-lactamase). Cần thực hiện thử nghiệm tính nhạy cảm trước khi bắt đầu điều trị với cefixim. Nếu cần thiết, việc điều trị có thể được bắt đầu trước khi biết kết quả tính nhạy cảm. Tuy nhiên, một khi có kết quả thử nghiệm tính nhạy cảm thì có thể cần phải điều chỉnh việc điều trị. Dược lực học Cefixim là một kháng sinh cephalosporin thế hệ 3, được dùng theo đường uống. Thuốc có tác dụng diệt khuẩn. Cơ chế diệt khuẩn của cefixim tương tự như của các cephalosporin khác gắn vào các protein đích (protein gắn penicilin gây ức chế quá trình tổng hợp mucopeptid ở thành tế bào vi khuẩn. Cơ chế kháng cefixim của vi khuẩn là giảm ái lực của cefixim đối với protein đích hoặc giảm tính thấm của màng tế bào vi khuẩn đối với thuốc. Cefixim có độ bền vững cao với sự thủy phân của beta – lactamase mã hóa bởi gien nằm trên hơn cefaclor, cefoxitin, cefuroxim, cephalexin, cephradin. Phổ kháng khuẩn: Vi khuẩn ưa khí Gram dương: Cầu khuẩn ưa khí Gram dương Streptococcus pyogenes (liên cầu khuẩn tan huyết beta nhóm A). S.agalactiae (liên cầu khuẩn nhóm B) và liên cầu khuẩn nhóm C, F và G; một số chủng S.pneumoniae tuy tác dụng kém hơn so với một vài cephalosporin uống khác (như cefdinir, cefpodoxim, cefprozil, cefuroxim); các chủng S.pneumoniae kháng penicilin được coi là kháng cefixim. Đa số liên cầu khuẩn nhóm D và S.viridans thường được coi là kháng cefixim. Cefixim không có tác dụng in vitro đối với tụ cầu tiết hoặc không tiết penicilinase bao gồm Staphylococcus aureus, S. epidermidis và S. saprophyticus, Staphylococcus kháng methicilin. Trực khuẩn ưa khí Gram dương Corynebacterium, Listeria monocytogenes thường kháng cefixim. Vi khuẩn ưa khí Gram âm: Cefixim có tác dụng đối với Neisseria meningitidis, N.gonorrhoeae tiết hoặc không tiết penicilinase. Thuốc cũng có tác dụng in vitro đối với N.gonorrhoeae kháng peniclin qua trung gian plasmid. Cefixim có tác dụng in vitro đối với đa số H.influenzae tiết hoặc không tiết beta-lactamase và H.parainfluenzae. Cefixim có tác dụng tốt hơn cefaclor, cephalexin, cefuroxim hoặc amoxicilin kết hợp với kali clavulanat đối với H.influenzae tiết beta-lactamase, nhưng tác dụng bằng hoặc kém hơn chút ít so với ciprofloxacin, ceftriaxon hoặc co-trimoxazol. Cefixim in vitro cũng có tác dụng đối với các chủng H.influenzae kháng nhiều thuốc (ampicilin, cloramphenicol, tetracyclin, co-trimoxazol, cefaclor và/hoặc erythromycin). Tuy vậy một số chủng H.influenzae không tiết bata-lactamse nhưng kháng ampicilin và cephalosoprin thế hệ 2 cũng giảm nhạy cảm với cefixim. In vitro, cefixim có tác dụng đối với Moraxella catarrhalis, kể cả khi kháng ampicilin, cefaclor, cephalexin. In vitro, cefixim có tác dụng đối với đa số Enterobacteriaceae quan trọng về lâm sàng. In vitro, cefixim có tác dụng đối với nhiều chủng E.coli, Citrobacter fruendii, K.Pneumoniae và P.mirabilis kháng các kháng sinh khác (aminoglycosid, tetracyclin, ampicilin, cloramphenicol và/hoặc co-trimoxazol). Nhiều chủng Pseudomonas kháng cefixim. Vi khuẩn kỵ khí: Đa số các chủng Bacteroides fragilis, các Bacteroides spp. khác, đa số chủng Clostridium (bao gồm C.difficile) kháng cefixim. Chlamydia và Mycoplasma: Chlamydia trachomatis và Ureaplasma urealyticum kháng cefixim. Xoắn khuẩn (Spirochetes): Cefixim có một vài tác dụng đối với Borelia burgdorferi là nguyên nhân gây bệnh Lyme (nồng độ 0,8 microgam/ml). Kháng thuốc: Cefixim bền vững cao, không bị thuỷ phân do nhiều beta-lactamase qua trung gian plasmid và nhiễm sắc thể, nhưng thuốc bị thuỷ phân do một số beta-lactamase của Enterobacter, Klebsiella oxytoca, Proteus vulgaris và Pseudomonas cepacia, Citrobacter freundii, Enterobacter cloacae, Flavobacterium và Bacteroides fragilis. Tụ cầu kháng cefixim là do thuốc có ái lực yếu với PBP, của vi khuẩn. Enterococcus và Listeria monocytogenes kháng thuốc là do thuốc có ái lực kém với các PBP của vi khuẩn. Citrobacter freundii và Enterobacter kháng cefixim là do các yếu tố ngăn cản thuốc thấm vào vi khuẩn và do tiết ra các beta-lactamase. Pseudomonas và Acinetobacter kháng thuốc là do các yếu tố thấm qua màng tế bào vi khuẩn. Cefixim kích thích sản xuất beta-lactamase ở một số chủng Morganella morganii, nhưng thuốc vẫn tác dụng in vitro đối với các chủng đó sau khi giải phóng các beta-lactamase đó. Một số cephalosporin thế hệ 3 vẫn còn có tác dụng với Staphylococci, cefixim thường không có tác dụng trên các vi khuẩn này. Cefixim không có hoạt tính in vitro trên Staphylococci (tiết hoặc không tiết beta-lactamase) như Staphylococcus aureus, S.epidermidis, và S.saprophyticus. Giống như các cephalosporin khác, cefixim không có hoạt tính trên Staphylococci, Enterococci và Listeria spp. không còn nhạy cảm với cefixim. Enterobacter spp., Pseudomonas aeruginosa và Bacteroides spp. đã kháng cefixim. Cefixim có hoạt tính in vitro hạn chế trên các vi khuẩn kỵ khí; hầu hết các chủng Clostridia (gồm C. difficile) đã kháng thuốc. Các vi khuẩn ưa khí Gram-âm như Achromobacter xylosoxidans và Flavobacterium meningosepticum đã kháng cefixim. Với Chlamydia và Mycoplasma: Cefixim không có hoạt tính với Chlamydia trachomatis và Ureaplasma urealyticum. Dược động học Sau khi uống một liều đơn cefixim, chỉ có 30-50% liều được hấp thu qua đường tiêu hóa, bất kể uống trước hoặc sau bữa ăn, tuy tốc độ hấp thu có thể giảm khi uống cùng bữa ăn. Thuốc ở dạng hỗn dịch uống được hấp thu tốt hơn ở dạng viên. Sự hấp thu thuốc tương đối chậm. Nồng độ đỉnh trong huyết tương là 2 microgam/ml (đối với liều 200mg), 3,7 microgam/ml (đối với liều 400mg) và đạt sau khi uống 2-6 giờ. Thời gian bán thải thường khoảng 3 đến 4 giờ và có thể kéo dài khi bị suy thận. Khoảng 65% cefixim trong máu gắn với protein huyết tương. Thông tin về sự phân bố của cefixim trong các mô và dịch cơ thể còn hạn chế. Hiện nay chưa có số liệu đầy đủ về nồng độ thuốc trong dịch não tủy. Thuốc qua được nhau thai. Thuốc có thể đạt nồng độ tương đối cao ở mật và nước tiểu. Khoảng 20% liều uống được đào thải ở dạng không biến đổi ra nước tiểu trong vòng 24 giờ. Có tới 60% liều uống đào thải không qua thận. Không có bằng chứng về chuyển hóa nhưng có thể có một phần thuốc được đào thải từ mật vào phân. Thuốc không loại được bằng thẩm phân máu. Suy thận: Ở người suy chức năng thận mức độ vừa (thanh thải creatinin 20-40mL/phút), thời gian bán thải trung bình của cefixim kéo dài đến 6,4 giờ. Suy thận nặng (thanh thải creatinin 5-20 ml/phút), thời gian bán thải trung bình tăng lên là 11,5 giờ. Thuốc không được loại bỏ đáng kể từ máu bằng thẩm phân máu hoặc thẩm phân phúc mạc. Tuy nhiên, một nghiên cứu chỉ ra rằng với liều 400mg, bệnh nhân chạy thận nhân tạo có công thức máu tương tự như những người có độ thanh thải creatinin 21-60ml/ phút.
Thành phần
Cefixim 100mg
Cách dùng
Cách dùng Dùng theo đường uống. Cho bột thuốc vào ly có chứa khoảng 20ml nước đun sôi để nguội (khoảng 4 muỗng café), khuấy đều và uống ngay. Liều dùng Trẻ em 6 tháng - 12 tuổi: Liều đề nghị là 8mg/kg/ngày, ngày một lần. Khi cần thiết, liều thuốc 4mg/kg cho hai lần mỗi ngày có thể được xem xét trừ nhiễm trùng đường tiết niệu, phải sử dụng liều dùng một lần mỗi ngày. Trẻ em > 12 tuổi hoặc cân nặng trên 50kg: Điều trị bằng liều người lớn (dùng dạng bào chế phù hợp khác). An toàn và hiệu quả ở trẻ dưới sáu tháng tuổi chưa được xác lập. Thời gian điều trị: Thời gian trị liệu lâm sàng là 10-14 ngày. Thời gian điều trị nên được hướng dẫn bởi đáp ứng lâm sàng và vi khuẩn của bệnh nhân.Trong điều trị các bệnh nhiễm trùng do Streptococcus pyogenes, nên điều trị ít nhất 10 ngày. Người suy thận: Liều sử dụng có thể được điều chỉnh khi chức năng thận suy giảm. Liều và lịch trình sử dụng bình thường có thể được áp dụng cho những bệnh nhân có độ thanh thải creatinin 40 ml/phút hoặc hơn. Những bệnh nhân có độ thanh thải từ 20 đến 40 ml/phút được dùng liều 75% liều dùng chuẩn hàng ngày. Những bệnh nhân có thanh thải creatinin dưới 20 ml/phút nên được dùng liều 50% liều dùng chuẩn hàng ngày. Làm gì khi dùng quá liều? Khi quá liều cefixim có thể có triệu chứng co giật. Do không có thuốc điều trị đặc hiệu nên chủ yếu điều trị triệu chứng. Khi có triệu chứng quá liều, phải ngừng thuốc ngay và xử trí như sau: Rửa dạ dày, có thể dùng thuốc chống co giật nếu có chỉ định lâm sàng. Do thuốc không loại được bằng thẩm phân máu nên không chạy thận nhân tạo hay lọc màng bụng. Làm gì khi quên 1 liều? Bổ sung liều ngay khi nhớ ra. Tuy nhiên, nếu thời gian giãn cách với liều tiếp theo quá ngắn thì bỏ qua liều đã quên và tiếp tục lịch dùng thuốc. Không dùng liều gấp đôi để bù cho liều đã bị bỏ lỡ.
Dữ liệu được ghi nhận vào 2026-08-28T04:04:51.422Z. Dược Hub cung cấp thông tin tham khảo, không bán thuốc trực tuyến và không thay thế tư vấn của bác sĩ hoặc dược sĩ. Giá thuốc và tồn kho không được công bố tại URL này.