← Danh mục thuốc

Thông tin sản phẩm tham khảo

Thuốc Cellcept 250mg Roche dự phòng hiện tượng thải ghép cấp tính (10 vỉ x 10 viên)

Thuốc Cellcept 250mg Roche dự phòng hiện tượng thải ghép cấp tính là gì? Viên nang Cellcept 250mg là dược phẩm do hãng Roche S.p.A nghiên cứu và sản xuất, có thành phần hoạt chất chính là Mycophenolate Mofetil (MMF). Chỉ định điều trị của thuốc Đối với người nhận ghép thận: Thuốc được chỉ định sử dụng trong phác đồ điều trị cho nhóm đối tượng này. Đối với người nhận ghép tim: Hoạt chất MMF đóng vai trò hỗ trợ nâng cao tỷ lệ sống sót cho bệnh nhân trong giai đoạn 1 năm đầu sau ca phẫu thuật.

Thương hiệu
Roche
Phân loại
Thuốc kê đơn
Số đăng ký
VN-23030-22
Quy cách/đơn vị
Hộp
Nhà sản xuất
Roche

Công dụng / chỉ định

Công dụng của Thuốc Cellcept 250mg Chỉ định sử dụng Ghép thận: Cellcept được dùng nhằm ngăn ngừa các đợt thải ghép cấp tính ở những người nhận thận hiến tặng không cùng hệ thống. Thuốc cũng được chỉ định để xử lý tình trạng thải ghép lần đầu hoặc những trường hợp đáp ứng kém với các liệu pháp điều trị trước đó ở nhóm đối tượng này. Ghép tim: Thuốc giúp dự phòng tình trạng thải ghép cấp tính ở người nhận tim ghép không cùng huyết thống. Việc điều trị bằng hoạt chất này giúp nâng cao tỷ lệ sống sót của bệnh nhân trong vòng 1 năm đầu sau phẫu thuật. Ghép gan: Cellcept có chỉ định trong việc phòng ngừa hiện tượng thải ghép cấp tính cho người bệnh thực hiện ghép gan không cùng huyết thống. Phối hợp điều trị: Quá trình sử dụng Cellcept bắt buộc phải tiến hành đồng thời với Corticosteroid và Cyclosporin. Cơ chế tác dụng (Dược lực học) Cơ chế tác dụng Hoạt chất Mycophenolate mofetil (MMF) cấu tạo là dạng este 2-morpholinoethyl của mycophenolic axit (MPA). MPA đóng vai trò là chất ức chế chọn lọc, có phục hồi, không cạnh tranh và có tác dụng mạnh lên enzym inosine monophosphate dehydrogenase (IMPDH). Do đó, quá trình tổng hợp guanosine nucleotide thông qua con đường de novo bị ngăn chặn. Khả năng ức chế enzym IMPDH của MPA xuất phát từ việc cấu trúc của nó tương đồng với cả phân tử nước xúc tác lẫn đồng yếu tố nicotinamide adenine dinucleotide. Sự bắt chước này cản trở phản ứng oxy hóa IMP thành xanthose-5-monophosphate, vốn là bước then chốt trong chu trình tổng hợp guanosine nucleotide de novo. Tác dụng kìm hãm sự tăng sinh tế bào của MPA thể hiện ưu thế vượt trội trên dòng lympho bào T và B so với các dòng tế bào khác. Nguyên nhân là do tế bào lympho bị lệ thuộc gần như hoàn toàn vào con đường de novo để tổng hợp purines, trong khi các tế bào khác vẫn có thể sử dụng những con đường tái tạo thay thế. Những nghiên cứu về hiệu quả lâm sàng Trong các thử nghiệm lâm sàng phòng ngừa thải ghép ở người nhận thận, tim và gan, CellCept đã được phối hợp cùng corticosteroids, ciclosporin, OKT3 và globulin kháng tế bào tuyến ức để xử lý các ca thải ghép thận tiến triển phức tạp. Trước thời điểm tiếp nhận CellCept, người bệnh đã được can thiệp bằng OKT3, globulin kháng tế bào tuyến ức và globulin kháng tế bào lympho. Về sau, CellCept tiếp tục được phối hợp với tacrolimus và daclizumab trong các nghiên cứu lâm sàng này. Dự phòng thải ghép tạng Bệnh nhân trưởng thành: Hiệu quả lâm sàng và độ an toàn của CellCept khi kết hợp cùng ciclosporin và corticosteroid trong dự phòng thải ghép đã được chứng minh qua các nghiên cứu đa trung tâm, ngẫu nhiên, mù đôi: gồm ba thử nghiệm trên người ghép thận, một thử nghiệm trên người ghép tim và một thử nghiệm trên người ghép gan. Bệnh nhi: Nghiên cứu nhãn mở, đa trung tâm thực hiện trên 100 bệnh nhi (độ tuổi từ 3 tháng đến 18 tuổi) ghép thận đã xác định được độ an toàn, đặc tính dược động học và hiệu quả của CellCept khi dùng chung với ciclosporin và corticosteroid để chống thải ghép. Ghép thận Bệnh nhân trưởng thành: Ba nghiên cứu lâm sàng đã so sánh hai chế độ liều uống của CellCept là 1g x 2 lần mỗi ngày và 1,5g x 2 lần mỗi ngày, kết hợp cùng ciclosporin, corticosteroid và phối hợp thêm azathioprine (trong 2 thử nghiệm) hoặc giả dược (trong 1 thử nghiệm) để phòng ngừa thải ghép cấp. Tiêu chí đánh giá hiệu quả chính là tỷ lệ người bệnh thất bại điều trị trong 6 tháng đầu sau ghép. Thất bại được định nghĩa là: xuất hiện thải ghép cấp tính xác định bằng sinh thiết, tử vong, mất tạng ghép, hoặc tự ý dừng tham gia thử nghiệm sớm mà trước đó chưa có kết quả sinh thiết xác nhận thải ghép. Các phác đồ thử nghiệm của CellCept bao gồm: (1) dùng globulin kháng tế bào tuyến ức, tiếp nối bằng MMF hoặc azathioprine kết hợp ciclosporin và corticosteroids; (2) phối hợp MMF hoặc azathioprine với ciclosporin và corticosteroids; (3) phối hợp MMF hoặc giả dược với ciclosporin và corticosteroids. Sự kết hợp giữa CellCept với ciclosporin và corticosteroids đã làm giảm tỷ lệ thất bại điều trị trong 6 tháng đầu sau phẫu thuật một cách có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Bảng dưới đây tổng hợp kết quả từ các nghiên cứu này: Những bệnh nhân dừng điều trị sớm vẫn được theo dõi về tỷ lệ tử vong hoặc mất tạng ghép lũy tích, số liệu này được thống kê riêng biệt. Sau khi ngừng thuốc, những trường hợp rút khỏi nghiên cứu sớm không được theo dõi về tình trạng thải ghép cấp tính. Nhóm dùng CellCept ghi nhận số lượng bệnh nhân ngưng tham gia thử nghiệm sớm (khi chưa có bằng chứng sinh thiết thải ghép, tử vong hay mất tạng) cao hơn nhóm đối chứng, đặc biệt là ở nhóm dùng liều 3g/ngày. Điều này có thể dẫn đến việc đánh giá thấp tỷ lệ thải ghép cấp thực tế, nhất là ở mức liều 3g/ngày. Tỷ lệ lũy tích của việc mất tạng ghép và tử vong sau 12 tháng được thể hiện ở bảng dưới. Nghiên cứu chưa chứng minh được sự vượt trội của CellCept đối với hai chỉ số này. Về mặt số liệu thuần túy, người bệnh dùng CellCept liều 2g/ngày và 3g/ngày đạt kết quả khả quan hơn nhóm đối chứng ở cả ba thử nghiệm. Trong đó, liều 2g/ngày cho kết quả tốt hơn liều 3g/ngày ở hai trên ba nghiên cứu. Những bệnh nhân dừng điều trị sớm ở tất cả các nhóm đều có tiên lượng xấu với tỷ lệ tử vong và mất tạng cao trong vòng một năm. Hiệu quả điều trị chính được xác định bằng tỷ lệ xuất hiện thải ghép cấp tính trong vòng 6 tháng đầu sau ghép. Tỷ lệ thải ghép được xác nhận bằng mô học ở các phân nhóm tuổi (3 tháng đến <6 tuổi, 6 tuổi đến <12 tuổi, 12 tuổi đến <18 tuổi) là tương đương nhau. Tỷ lệ thải ghép có bằng chứng mô học chung ở bệnh nhi tại thời điểm 6 tháng tương đương với người lớn. Sau 12 tháng ghép thận, tỷ lệ hỏng tạng ghép (5%) và tử vong (2%) ở bệnh nhi tương đồng với các số liệu ghi nhận trên người trưởng thành. Ghép tim Một thử nghiệm đa trung tâm, ngẫu nhiên, mù đôi, so sánh nhóm song song được thực hiện trên 650 bệnh nhân ghép tim lần đầu (gồm 72 người chưa từng dùng thuốc thử nghiệm và 578 người đã được điều trị bằng thuốc thử nghiệm). Bệnh nhân được phân nhóm ngẫu nhiên sử dụng CellCept 1,5g x 2 lần mỗi ngày (n=289) hoặc azathioprine 1,5-3mg/kg/ngày (n=289), kết hợp với liệu pháp duy trì bằng ciclosporin và corticosteroids. Hai tiêu chí hiệu quả chính gồm: (1) Tỷ lệ bệnh nhân gặp ít nhất một đợt thải ghép có tổn hại huyết động lực (xác định qua sinh thiết cơ màng trong cơ tim), hoặc phải tái ghép, hoặc tử vong trong 6 tháng đầu; và (2) Tỷ lệ tử vong hoặc tái ghép trong vòng 12 tháng sau phẫu thuật. Những người dừng điều trị sớm vẫn được theo dõi tình trạng thải ghép dị mô trong 6 tháng và tỷ lệ tử vong trong 1 năm. 1. Thải ghép: Không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa giữa nhóm CellCept và Azathioprine (AZA) đối với tình trạng thải ghép có tổn hại huyết động lực được xác nhận bằng sinh thiết, chi tiết ở bảng sau: Thải ghép trong vòng 6 tháng Tất cả bệnh nhân Bệnh nhân được điều trị AZA N=323 Cellcept N=327 AZA N=289 CellCept N=289 Thải ghép được khẳng định qua sinh thiết, có tổn hại đến huyết động lực* 121 (38%) 120 (37%) 100 (35%) 92 (32%) *Tổn hại huyết động lực được xác định khi đáp ứng một trong các tiêu chí: áp lực góc chêm mao mạch phổi tăng 25% hoặc đạt mức 220mm; chỉ số tim giảm 25% hoặc đạt mức 2,0l/phútm; phân suất tống máu <30%; độ bão hòa oxy động mạch phổi giảm 25% hoặc <60%; xuất hiện tiếng ngựa phi S3 mới; phân đoạn thu ngắn giảm 25% hoặc <20%; hoặc cần dùng thuốc co cơ tim để cải thiện lâm sàng. 2. Sống sót: Không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê về tỷ lệ tử vong và tái ghép tim giữa hai nhóm điều trị bằng MMF và AZA. Tuy nhiên, ở nhóm bệnh nhân thực tế được điều trị, giới hạn dưới của khoảng tin cậy 97,5% một phía đối với sự khác biệt về tử vong và tái ghép tim là 0,9 tại thời điểm 1 năm, cho thấy MMF có lợi thế hơn so với AZA ở nhóm đối tượng này, chi tiết thể hiện ở bảng dưới: Tử vong hoặc tái ghép tim trong vòng 1 năm Tất cả bệnh nhân Bệnh nhân được điều trị AZA N=323 Cellcept N=327 AZA N=289 CellCept N=289 Tử vong hoặc tái ghép tim 49 (15,2%) 42 (12,8%) 33 (11,4%) 18 (6,2%) Sự khác biệt về điều trị được hiệu chỉnh theo trọng số 2,6% 5,3% Giới hạn dưới của 97,5% khoảng tin cậy một phía -2,5% +0,9% Ghép gan Một nghiên cứu đa trung tâm, ngẫu nhiên, mù đôi, so sánh nhóm song song trên bệnh nhân ghép gan lần đầu được thực hiện tại 23 trung tâm (16 ở Mỹ, 2 ở Canada, 4 ở Châu Âu và 1 ở Úc) với 565 người tham gia (564 người thực tế dùng thuốc). Bệnh nhân được phân vào nhóm dùng CellCept truyền tĩnh mạch 1g x 2 lần mỗi ngày trong 14 ngày, sau đó chuyển sang uống 1,5g x 2 lần mỗi ngày; hoặc nhóm dùng azathioprine tiêm tĩnh mạch 1-2mg/kg/ngày rồi chuyển sang uống 1-2mg/kg/ngày. Cả hai nhóm đều phối hợp với ciclosporin và corticosteroid để duy trì ức chế miễn dịch. Hai tiêu chí đánh giá chính gồm: (1) Tỷ lệ bệnh nhân trong 6 tháng đầu gặp ít nhất một đợt thải ghép xác định bằng sinh thiết và đã can thiệp điều trị, hoặc tử vong, hoặc phải tái ghép; (2) Tỷ lệ mất tạng ghép (tử vong hoặc tái ghép) trong vòng 12 tháng sau phẫu thuật. Những người dừng điều trị sớm được theo dõi về tình trạng mất tạng ghép trong vòng 1 năm. Kết quả phân tích theo dự định điều trị (ITT) cho thấy CellCept phối hợp với ciclosporin và corticosteroids có hiệu quả dự phòng thải ghép cấp tính vượt trội so với azathioprine (p=0,025), đồng thời cho tỷ lệ sống sót tương đương. Thải ghép trong vòng 6 tháng / Tử vong hoặc tái ghép trong vòng 1 năm AZA N=287 CellCelpt N=278 Thải ghép được khẳng định qua sinh thiết và đã được điều trị trong vòng 6 tháng 137(47,7%) 107(38,5%) Tử vong hoặc tái phép trong vòng 1 năm 42(14,6%) 41(14,7%) Điều trị thải ghép tạng khó điều trị Nghiên cứu ngẫu nhiên, nhãn mở so sánh hiệu quả giữa MMF liều 3g mỗi ngày và liệu pháp corticosteroid tiêm tĩnh mạch được thực hiện trên 150 bệnh nhân ghép thận đang bị thải ghép dị mô tế bào cấp tính, khó điều trị. Mục tiêu chính là xác định tỷ lệ bệnh nhân sống sót và giữ được chức năng tạng ghép sau 6 tháng tham gia nghiên cứu. Kết quả cho thấy tỷ lệ mất tạng ở nhóm chứng thấp hơn dự kiến ban đầu. Phân tích chính dựa trên kiểm định tỷ lệ xác suất liên tục ghi nhận xu hướng cải thiện tỷ lệ sống sót giữ tạng ở nhóm dùng MMF (p=0,081). Phân tích phụ bằng kiểm định Cochran-Mantel-Haenzel (không hiệu chỉnh theo dõi liên tục) cho thấy nhóm dùng MMF giảm được 45% nguy cơ tử vong hoặc mất tạng ghép trong vòng 6 tháng (p=0,062). Mất tạng ghép hoặc tử vong trong vòng 6 tháng Steroids tiêm tĩnh mạch N=73 Cellcept N=77 Mất tạng ghép hoặc tử vong trong vòng 6 tháng 19 (26,0%) 11 (14,3%) Hấp thu và chuyển hoá thuốc (Dược động học) Đặc tính dược động học của mycophenolate mofetil (MMF) đã được làm rõ trên các bệnh nhân thực hiện ghép thận, tim và gan. Nhìn chung, các thông số dược động học của MPA ở người ghép tim và ghép thận có sự tương đồng. Ở giai đoạn ngay trước khi phẫu thuật, bệnh nhân ghép gan khi uống MMF liều 1,5g hoặc truyền tĩnh mạch liều 1g đạt được nồng độ MPA tương đương với bệnh nhân ghép thận sử dụng MMF liều 1g qua đường uống hoặc đường tĩnh mạch. Hấp thu Sau khi uống hoặc truyền tĩnh mạch, mycophenolate mofetil nhanh chóng được hấp thu hoàn toàn và chuyển hóa thành MPA - chất chuyển hóa có hoạt tính sinh học. Sinh khả dụng trung bình của dạng uống đạt 94% so với dạng truyền tĩnh mạch (tính theo AUC của MPA). Dù mycophenolate mofetil có thể định lượng được trong hệ tuần hoàn sau khi truyền tĩnh mạch, nồng độ của nó sau khi uống lại thấp dưới giới hạn phát hiện (0,4 ng/ml). Trong giai đoạn sớm sau ghép (< 40 ngày), bệnh nhân ghép thận, tim và gan có trị số AUC trung bình của MPA thấp hơn khoảng 30% và Cmax thấp hơn khoảng 40% so với giai đoạn muộn (3-6 tháng sau ghép). Trị số AUC của MPA khi truyền tĩnh mạch CellCept 1g x 2 lần mỗi ngày với tốc độ khuyến cáo cho bệnh nhân ghép thận ở giai đoạn sớm tương đương với trị số thu được từ đường uống. Ở người ghép gan, phác đồ truyền tĩnh mạch CellCept 1g x 2 lần mỗi ngày, tiếp nối bằng đường uống 1,5g x 2 lần mỗi ngày mang lại trị số AUC của MPA tương đương với bệnh nhân ghép thận dùng liều uống 1g x 2 lần mỗi ngày. Thức ăn không gây ảnh hưởng đến mức độ hấp thu toàn phần (AUC của MPA) khi dùng liều CellCept 1,5g x 2 lần mỗi ngày ở người ghép thận, tuy nhiên nồng độ đỉnh (Cmax) của MPA bị giảm khoảng 40%. Tương đương của dạng bào chế đường uống: Thử nghiệm tương đương sinh học của CellCept đường uống xác nhận rằng 2 viên nén nồng độ 500 mg có giá trị tương đương với 4 viên nang nồng độ 250 mg. Phân phối Do có chu trình gan-ruột, nồng độ MPA trong huyết tương thường xuất hiện một đỉnh tăng thứ hai sau khi dùng thuốc khoảng 6-12 giờ. Việc dùng đồng thời cholestyramine (liều 4g x 3 lần mỗi ngày) làm giảm khoảng 40% AUC của MPA do cắt đứt chu trình gan-ruột này. Ở nồng độ điều trị, tỷ lệ MPA liên kết với albumin huyết tương đạt 97%. Chuyển hóa Enzym glucuronyl transferase (nhánh UGT1A9) chuyển hóa MPA thành phenolic glucuronide của MPA (MPAG) không có hoạt tính. Trong cơ thể, MPAG có thể chuyển ngược lại thành MPA tự do thông qua chu trình gan-ruột. Một lượng nhỏ acylglucuronide (AMPAG) cũng được tạo ra. AMPAG là chất có hoạt tính dược lý và được coi là nguyên nhân gây ra một số phản ứng phụ của MMF như giảm bạch cầu và tiêu chảy. Thải trừ Nghiên cứu với mycophenolate mofetil gắn dấu phóng xạ đường uống cho thấy thuốc được đào thải hoàn toàn, với 93% tìm thấy trong nước tiểu và 6% trong phân. Phần lớn liều dùng (khoảng 87%) thải trừ qua nước tiểu dưới dạng MPAG, trong khi lượng MPA nguyên bản xuất hiện trong nước tiểu không đáng kể (< 1%). Ở nồng độ điều trị, các phương pháp lọc máu không loại bỏ được MPA và MPAG. Tuy nhiên, khi nồng độ MPAG tăng rất cao (> 100kg/ml), một lượng nhỏ chất này có thể bị đào thải. Các thuốc liên kết với acid mật như cholestyramine làm giảm AUC của MPA do can thiệp vào chu trình gan-ruột. Quá trình thải trừ MPA cần sự tham gia của nhiều chất vận chuyển như polypeptide vận chuyển anion hữu cơ (OATPs) và protein liên quan đến tính đa kháng thuốc 2 (MRP2). Việc bài tiết các chất chuyển hóa glucuronide vào mật liên quan đến MRP2, BCRP và các đồng phân OATP. Protein đa kháng thuốc 1 (MDR1) cũng tham gia vận chuyển MPA nhưng chủ yếu giới hạn ở giai đoạn hấp thu. Tại thận, MPA và các chất chuyển hóa có khả năng tương tác với hệ vận chuyển anion hữu cơ. Dược động học ở những đối tượng đặc biệt Bệnh nhân bị suy thận nặng: Nghiên cứu đơn liều trên các nhóm đối tượng cho thấy bệnh nhân suy thận mạn nặng (độ thanh thải cầu thận < 25ml/phút 1,73m) có trị số AUC của MPA đường uống cao hơn từ 28-75% so với người khỏe mạnh hoặc người suy thận nhẹ hơn. Đồng thời, AUC của MPAG sau một liều dùng ở người suy thận nặng tăng gấp 3-6 lần so với nhóm chứng, phù hợp với con đường thải trừ qua thận của chất này. Hiện chưa có dữ liệu dược động học khi dùng đa liều MMF ở bệnh nhân suy thận mạn tính nặng. Những bệnh nhân có chức năng thận phục hồi chậm sau ghép: Ở nhóm đối tượng này, trị số AUC0-12 trung bình của MPA trong huyết tương tương đương với những người có chức năng thận phục hồi bình thường. Nồng độ MPA tự do và MPA huyết tương có thể tăng nhẹ nhưng không cần thiết phải điều chỉnh liều CellCept. Trị số AUC0-12 trung bình của MPAG trong huyết tương cao gấp 2-3 lần so với người có chức năng thận phục hồi bình thường. Ở những ca tạng ghép không hồi phục chức năng sau phẫu thuật, có hiện tượng tích lũy MPAG trong huyết tương, trong khi sự tích lũy MPA nếu xảy ra thì ở mức độ thấp hơn nhiều. Bệnh nhân bị suy gan: Dược động học của MPA và MPAG không bị biến đổi bởi tình trạng tổn thương nhu mô gan ở người xơ gan do rượu khi dùng MMF đường uống hoặc tĩnh mạch. Tuy nhiên, tác động này có thể khác nhau tùy thuộc vào loại bệnh gan cụ thể; các bệnh lý gây tổn thương đường mật chủ yếu (như xơ gan ứ mật tiên phát) có thể dẫn đến những ảnh hưởng khác biệt. Bệnh nhi (< 18 tuổi): Đánh giá trên 55 bệnh nhi ghép thận dùng MMF đường uống liều 600mg/mo x 2 lần mỗi ngày (tối đa 1g x 2 lần mỗi ngày) cho thấy trị số AUC của MPA đạt được tương đương với người lớn dùng CellCept liều 1g x 2 lần mỗi ngày ở cả giai đoạn sớm và muộn sau ghép. Trị số AUC của MPA giữa các nhóm tuổi của trẻ em cũng ghi nhận sự đồng đều. Người già (> 65 tuổi): Chưa có các nghiên cứu chính thức về dược động học của thuốc trên nhóm đối tượng cao tuổi.

Thành phần

Thành phần của Thuốc Cellcept 250mg Roche dự phòng hiện tượng thải ghép cấp tính Trong mỗi 1 viên nang chứa thành phần dược chất sau: Mycophenolate mofetil với hàm lượng là 250mg .

Cách dùng

Cách dùng Thuốc Cellcept 250mg Hướng dẫn cách sử dụng Việc điều trị bằng CellCept cần được tiến hành phối hợp đồng thời với hai hoạt chất là Cyclosporin và Corticosteroid. Liều dùng phù hợp Dự phòng tình trạng thải ghép thận Đối với người trưởng thành: Liệu trình khuyến nghị cho người nhận ghép thận là sử dụng 1g theo đường uống hoặc truyền tĩnh mạch chậm (tối thiểu trong hai tiếng), thực hiện 2 lần mỗi ngày (tương đương tổng liều 2g/ngày). Mặc dù mức liều 1.5g dùng 2 lần mỗi ngày (tổng liều 3g/ngày) đã chứng minh được hiệu quả lâm sàng và độ an toàn qua các thử nghiệm, nhưng việc tăng liều này không mang lại ưu thế vượt trội rõ rệt cho người ghép thận. Nhìn chung, nhóm bệnh nhân áp dụng mức liều Cellcept 2g/ngày đạt được chỉ số an toàn cao hơn so với nhóm dùng liều Cellcept 3g/ngày. Đối với trẻ em và trẻ vị thành niên (từ 3 tháng đến 18 tuổi): Liều dùng khuyến cáo đối với dạng bột pha hỗn dịch uống Cellcept được tính theo diện tích bề mặt cơ thể là 600mg/m2, dùng 2 lần mỗi ngày (giới hạn tối đa không quá 2g/ngày). Trẻ có diện tích cơ thể đạt từ 1.25 đến 1.5m2 có thể chuyển sang dùng Cellcept dạng viên nang với liều lượng 750mg, chia làm 2 lần mỗi ngày (tương đương 1.5g/ngày). Trẻ có diện tích cơ thể vượt trên 1.5m2 có thể áp dụng liều 1g dùng 2 lần mỗi ngày bằng Cellcept dạng viên nén (tương đương 2g/ngày). Dự phòng tình trạng thải ghép tim Đối với người trưởng thành: Liều lượng chỉ định cho người nhận ghép tim là 1.5g dùng qua đường uống hoặc truyền tĩnh mạch chậm (thời gian truyền không dưới hai tiếng), thực hiện 2 lần mỗi ngày (tương đương tổng liều 3g/ngày). Đối với bệnh nhi: Chưa có dữ liệu lâm sàng về việc áp dụng thuốc cho trẻ em được ghép tim. Dự phòng tình trạng thải ghép gan Đối với người trưởng thành: Người bệnh ghép gan được khuyến cáo khởi đầu bằng đường truyền tĩnh mạch chậm (tối thiểu trong hai tiếng) với liều 1g, thực hiện 2 lần mỗi ngày (tương đương 2g/ngày); sau đó có thể chuyển sang đường uống với liều 1.5g, dùng 2 lần mỗi ngày (tương đương 3g/ngày). Đối với bệnh nhi: Chưa có dữ liệu lâm sàng về việc áp dụng thuốc cho trẻ em được ghép gan. Điều trị tình trạng thải ghép thận lần đầu hoặc thể kháng trị Đối với người trưởng thành: Liều lượng khuyến nghị là 1.5g dùng qua đường uống hoặc truyền tĩnh mạch chậm (thời gian truyền tối thiểu hai tiếng), thực hiện 2 lần mỗi ngày (tương đương tổng liều 3g/ngày). Đối với bệnh nhi: Chưa có dữ liệu lâm sàng về việc điều trị thải ghép thận lần đầu hoặc thể khó điều trị ở đối tượng trẻ em. Lưu ý chung: Cần bắt đầu sử dụng liều Cellcept đầu tiên trong thời gian sớm nhất có thể ngay sau khi hoàn tất phẫu thuật ghép thận, tim hoặc gan. Liều dùng phù hợp Người bệnh bị giảm bạch cầu trung tính Trong trường hợp xét nghiệm thấy lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối giảm xuống dưới mức 1.3 x 103 μl, bác sĩ cần chỉ định tạm ngừng hoặc giảm liều lượng Cellcept đang dùng. Người cao tuổi Mức liều đường uống 1g dùng 2 lần mỗi ngày đối với người ghép thận, và liều 1,5g dùng 2 lần mỗi ngày đối với người ghép tim hoặc gan được đánh giá là phù hợp cho nhóm bệnh nhân lớn tuổi. Người bệnh suy giảm chức năng thận Đối với người ghép thận bị suy thận mạn tính mức độ nặng (chỉ số lọc cầu thận thấp hơn 25ml/phút/1,73m2), cần tránh dùng vượt quá mức liều 1g dùng 2 lần mỗi ngày. Giới hạn này không bắt buộc áp dụng trong giai đoạn ngay sau phẫu thuật ghép, hoặc trong thời gian điều trị các đợt thải ghép cấp tính/thải ghép kháng trị. Hiện chưa có dữ liệu nghiên cứu đối với người ghép gan hoặc ghép tim bị suy thận mạn tính mức độ nặng. Không cần thay đổi liều lượng đối với những người bệnh có chức năng thận chậm phục hồi sau khi phẫu thuật ghép thận. Người bệnh suy giảm chức năng gan Không cần điều chỉnh liều lượng cho người ghép thận có kèm theo bệnh lý nhu mô gan nặng. Chưa có dữ liệu nghiên cứu đối với người ghép tim có kèm theo bệnh lý nhu mô gan nặng. Khi dùng quá liều phải làm sao? Các ghi nhận về việc dùng quá liều Mycophenolate mofetil đã được báo cáo trong cả giai đoạn thử nghiệm lâm sàng lẫn quá trình lưu hành thực tế trên thị trường. Phần lớn các trường hợp quá liều được ghi nhận đều không biểu hiện triệu chứng bất lợi. Những phản ứng phụ xuất hiện (nếu có) đều tương đồng với các tác dụng không mong muốn đã được cảnh báo trong hồ sơ an toàn của thuốc. Việc dùng quá liều Mycophenolate mofetil có nguy cơ dẫn đến ức chế miễn dịch quá mức, làm cơ thể dễ bị nhiễm trùng và gây suy tủy xương. Nếu xét nghiệm thấy có tình trạng giảm bạch cầu hạt trung tính, cần thực hiện giảm liều hoặc tạm dừng sử dụng CellCept. Hoạt chất MPA không thể loại bỏ bằng phương pháp lọc máu thông thường. Tuy nhiên, khi nồng độ thuốc trong huyết tương quá cao (vượt mức 100kg/ml), một lượng nhỏ chất chuyển hóa MPAG có thể được đào thải. Việc sử dụng các chất có khả năng tăng thải trừ axit mật như cholestyramine sẽ giúp hỗ trợ loại bỏ MPA ra khỏi cơ thể nhanh hơn. Khi quên 1 liều cần làm gì? Hãy uống bổ sung ngay khi sực nhớ ra. Trong trường hợp thời điểm nhớ ra đã quá gần với lịch uống của liều kế tiếp, hãy bỏ qua liều đã quên và tiếp tục dùng thuốc theo đúng kế hoạch ban đầu. Tuyệt đối không tự ý dùng lượng thuốc gấp đôi để bù đắp cho liều đã lỡ.

Lưu ý và cảnh báo

Những điều cần lưu ý khi sử dụng Trường hợp không nên sử dụng Tuyệt đối không điều trị bằng Cellcept 250mg cho các đối tượng sau: Người bệnh có tiền sử dị ứng hoặc quá mẫn với hoạt chất Mycophenolate mofetil hoặc axit mycophenolic. Phụ nữ đang trong thai kỳ do nguy cơ gây dị tật bẩm sinh, quái thai và đột biến gen. Nữ giới có khả năng thụ thai nhưng không áp dụng các phương pháp tránh thai có hiệu quả cao. Người mẹ đang trong giai đoạn cho con bú. Cảnh báo và thận trọng Khối u Việc áp dụng phác đồ phối hợp các chất ức chế miễn dịch, bao gồm cả Cellcept, sẽ làm tăng nguy cơ xuất hiện u lympho cùng những bệnh lý ác tính khác, đặc biệt là ung thư da. Mức độ nguy cơ này phụ thuộc chủ yếu vào thời gian cùng cường độ ức chế miễn dịch hơn là việc dùng một hoạt chất cụ thể. Để giảm thiểu nguy cơ ung thư da, người bệnh cần hạn chế tối đa việc tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng và tia cực tím bằng cách sử dụng kính râm bảo vệ cao và mặc quần áo che chắn tốt. Nhiễm khuẩn Tình trạng hệ miễn dịch bị áp chế quá mức tạo điều kiện cho các tác nhân gây hại tấn công, dẫn đến nhiễm trùng cơ hội, nhiễm khuẩn nặng nguy hiểm tính mạng và nhiễm trùng huyết. Quá trình này có thể làm tái kích hoạt các virus đang ngủ yên trong cơ thể, gây bùng phát viêm gan B, viêm gan C hoặc các bệnh do polyomavirus. Đã có báo cáo về các ca viêm gan tái phát ở người mang mầm bệnh khi dùng thuốc ức chế miễn dịch. Ngoài ra, một số trường hợp tử vong do bệnh lý chất trắng não đa ổ tiến triển (PML) liên quan đến virus JC đã được ghi nhận ở người dùng CellCept. Những đối tượng có nguy cơ cao bị PML thường liên quan đến tình trạng suy giảm miễn dịch hoặc đang dùng các liệu pháp ức chế miễn dịch. Khi bệnh nhân xuất hiện triệu chứng thần kinh, bác sĩ cần đưa PML vào danh mục chẩn đoán phân biệt và tham vấn chuyên gia thần kinh. Bệnh thận do virus BK có thể xảy ra sau khi ghép thận và dùng CellCept, có khả năng gây hỏng tạng ghép. Cần theo dõi sát để phát hiện sớm và xem xét giảm liều ức chế miễn dịch khi có biểu hiện bệnh lý này. Hệ máu và miễn dịch Tình trạng bất sản nguyên bào hồng cầu đơn thuần (PRCA) đã được ghi nhận ở người dùng CellCept phối hợp với các thuốc ức chế miễn dịch khác. Cơ chế gây PRCA của Mycophenolate mofetil cũng như vai trò của các thuốc phối hợp hiện chưa được làm rõ. Một số ca bệnh đã phục hồi PRCA sau khi giảm liều hoặc ngừng CellCept, tuy nhiên việc giảm bớt chất ức chế miễn dịch có thể làm tăng nguy cơ thải ghép. Người bệnh cần báo ngay cho nhân viên y tế nếu xuất hiện dấu hiệu nhiễm trùng, xuất huyết, vết bầm tím hoặc biểu hiện suy tủy. Cần tiến hành xét nghiệm công thức máu định kỳ: mỗi tuần 1 lần trong tháng đầu, 2 lần mỗi tháng ở tháng thứ 2 và thứ 3, sau đó duy trì đều đặn mỗi tháng một lần cho đến hết năm đầu điều trị. Đặc biệt lưu ý theo dõi tình trạng giảm bạch cầu đa nhân trung tính (do thuốc, do virus hoặc phối hợp các nguyên nhân). Nếu chỉ số bạch cầu đa nhân trung tính tuyệt đối giảm xuống dưới 1,3 x 103/μl, phải tạm dừng hoặc giảm liều CellCept và theo dõi y khoa chặt chẽ. Hiệu quả của các loại vaccine có thể bị suy giảm trong thời gian điều trị. Người bệnh cần tránh tiêm các vaccine sống giảm độc lực, riêng vaccine cúm (influenza) vẫn có thể sử dụng theo hướng dẫn y tế quốc gia. Dạ dày - ruột CellCept làm tăng nguy cơ gặp các phản ứng phụ ở đường tiêu hóa như loét, chảy máu hoặc thủng dạ dày - tá tràng. Do đó, cần hết sức thận trọng khi dùng cho người có bệnh lý nền về tiêu hóa. Do cơ chế ức chế inosine monophosphate dehydrogenase (IMPDH), không dùng thuốc này cho người mắc các hội chứng di truyền hiếm gặp gây thiếu hụt enzym hypoxanthin-guaninephosphoribosyl-transferase (HGPRT) như hội chứng Lesch-Nyhan và Kelley-Seegmiller. Tương tác cần lưu ý Việc chuyển đổi giữa các phác đồ có chất ức chế tuần hoàn gan ruột của MPA (như ciclosporin) sang các chất không có tác dụng này (như sirolimus, belatacept) hoặc ngược lại cần được thực hiện cẩn trọng vì có thể làm biến động nồng độ MPA. Các thuốc làm gián đoạn chu trình gan ruột của MPA như kháng sinh hay cholestyramin có thể làm giảm nồng độ thuốc trong máu, làm suy giảm hiệu quả của CellCept. Tránh phối hợp CellCept với azathioprine do cả hai đều có khả năng gây ức chế tủy xương và chưa có nghiên cứu lâm sàng về việc kết hợp này. Các trường hợp đặc biệt Người cao tuổi có nguy cơ gặp phản ứng phụ cao hơn so với người trẻ, đặc biệt là nhiễm trùng (như nhiễm virus cự bào xâm lấn), phù phổi và xuất huyết tiêu hóa. Đối với bệnh nhân suy thận mạn tính mức độ nặng, cần tránh dùng liều vượt quá 1g , 2 lần mỗi ngày. Không cần thay đổi liều ở người bệnh chậm phục hồi chức năng thận sau ghép tạng, nhưng cần giám sát y khoa chặt chẽ. Chưa có dữ liệu điều trị cho người suy thận nặng sau ghép gan hoặc ghép tim. Dạng hỗn dịch uống của CellCept có chứa aspartame (tạo ra phenylalanine tương đương 2,78 mg/ 5 mL), cần thận trọng khi dùng cho người bị phenylketonuria. Tương tác với thuốc khác Acyclovir: Khi dùng chung với Mycophenolate mofetil, nồng độ trong huyết tương của cả acyclovir và MPAG đều tăng lên. Tình trạng suy thận có thể làm tăng sự cạnh tranh đào thải ở ống thận, khiến nồng độ cả hai hoạt chất này tăng cao hơn nữa. Các thuốc kháng acid và PPIs (ức chế bơm proton): Việc uống cùng các chất kháng acid (như nhôm/magnesi hydroxit) hoặc PPIs (như lansoprazole, pantoprazole) sẽ làm giảm khả năng hấp thu của Mycophenolate mofetil. Tuy nhiên, không thấy có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ thải ghép giữa nhóm dùng và không dùng PPIs. Sự giảm hấp thu khi dùng chung với thuốc kháng acid được ghi nhận là thấp hơn so với khi dùng chung với PPIs. Cholestyramine: Nghiên cứu trên người khỏe mạnh dùng 4g cholestyramine với tần suất 3 lần một ngày trong vòng 4 ngày, sau đó uống một liều đơn 1,5 g Mycophenolate mofetil cho thấy diện tích dưới đường cong (AUC) của MPA bị giảm đi 40% . Cần thận trọng khi phối hợp với các thuốc gây ảnh hưởng đến vòng tuần hoàn gan - ruột. Ciclosporin A: Hoạt chất này không bị ảnh hưởng dược động học bởi Mycophenolate mofetil. Tuy nhiên, Ciclosporin A gây ức chế chu trình gan ruột của MPA, làm giảm nồng độ MPA từ 30% đến 50% ở bệnh nhân ghép thận so với những người dùng phác đồ kết hợp sirolimus hoặc belatacept với liều CellCept tương đương. Nồng độ MPA sẽ thay đổi khi người bệnh được chuyển từ Ciclosporin A sang các chất ức chế miễn dịch khác không gây ảnh hưởng đến chu trình gan ruột. Telmisartan: Dùng đồng thời với CellCept làm giảm nồng độ MPA khoảng 30% do telmisartan kích hoạt PPAR gamma, dẫn đến tăng hoạt tính của UGT1A9 và thay đổi bài tiết MPA. Dù vậy, không có khác biệt lâm sàng nào về tỷ lệ thải ghép hay tác dụng phụ được ghi nhận giữa hai nhóm bệnh nhân có hoặc không phối hợp telmisartan. Ganciclovir: Việc dùng chung Mycophenolate mofetil đường uống và ganciclovir tiêm tĩnh mạch dẫn đến sự cạnh tranh bài tiết ở ống thận, làm tăng nồng độ của cả MPAG và ganciclovir trong máu, đặc biệt ở người suy thận. Dược động học của MPA không bị biến động lớn và không cần chỉnh liều Mycophenolate mofetil, nhưng cần theo dõi sát những bệnh nhân suy thận có phối hợp ganciclovir hoặc valganciclovir. Thuốc tránh thai đường uống: Thử nghiệm phối hợp CellCept (liều 1g , 2 lần mỗi ngày) cùng thuốc tránh thai chứa ethinylestradiol ( 0,02mg - 0,04mg ) và levonorgestrel ( 0,05mg - 0,20mg ), desogestrel ( 0,15mg hoặc gestodene ( 0,05mg - 0,10mg ) trên phụ nữ bị vẩy nến cho thấy CellCept không làm ảnh hưởng đến nồng độ LH, FSH, progesterone cũng như không làm mất tác dụng ngừa thai của các thuốc này. Rifampicin: Ghi nhận một trường hợp ghép tim-phổi bị giảm 70% nồng độ MPA (AUC) khi dùng chung với rifampicin. Cần theo dõi sát nồng độ MPA để điều chỉnh liều CellCept phù hợp nhằm duy trì hiệu quả điều trị. Tacrolimus: Không có ảnh hưởng đến AUC và Cmax của MPA khi dùng chung với tacrolimus ở người ghép gan hoặc ghép thận. Ở bệnh nhân ghép thận, CellCept không làm thay đổi nồng độ tacrolimus. Tuy nhiên, ở người ghép gan đã ổn định, việc dùng CellCept liều 1,5g x 2 lần /ngày phối hợp với tacrolimus có thể làm tăng AUC của tacrolimus khoảng 20% . Kháng sinh diệt khuẩn đường ruột: Các kháng sinh tiêu diệt vi khuẩn sản xuất B-glucuronidase ở ruột (như penicillin, cephalosporin, aminoglycoside, fluoroquinolon) có thể làm giảm nồng độ MPA do can thiệp vào vòng tuần hoàn gan ruột của MPAG/MPA. Ciprofloxacin hoặc amoxicillin phối hợp clavulanic acid: Ghi nhận nồng độ MPA trước liều giảm 54% ở bệnh nhân ghép thận ngay sau khi bắt đầu dùng các kháng sinh này. Tác động này giảm dần trong quá trình điều trị và biến mất hoàn toàn khi ngừng kháng sinh. Sự thay đổi nồng độ trước liều này chưa được xác định rõ về mặt ý nghĩa lâm sàng đối với nồng độ MPA toàn phần. Norfloxacin và metronidazole: Sự kết hợp của hai kháng sinh này làm giảm 30% chỉ số AUC0-48 của MPA sau khi uống một liều đơn CellCept. Tác động này không xảy ra nếu chỉ dùng đơn độc một trong hai kháng sinh trên. Trimethoprim/sulphamethoxazole: Không gây ảnh hưởng đến nồng độ (AUC, Cmax) của MPA. Các tương tác khác: Phối hợp probenecid làm tăng diện tích dưới đường cong (AUC) của MPAG lên 3 lần . Các thuốc thải trừ qua ống thận khác có thể cạnh tranh và làm tăng nồng độ của chính chúng hoặc của MPAG trong máu. Dùng chung sevelamer với CellCept làm giảm nồng độ đỉnh Cmax của MPA khoảng 30% và giảm AUC0-12 khoảng 25% . Khuyến cáo nên uống sevelamer và các chất gắn phosphate chứa calci sau khi dùng CellCept ít nhất 2 giờ để tránh ảnh hưởng đến hấp thu MPA. Vaccine sống: Không được tiêm vaccine sống cho người có hệ miễn dịch bị suy giảm. Đáp ứng tạo kháng thể đối với các loại vaccine khác cũng có thể bị hạn chế. Tương tác với thuốc khác Dạng truyền tĩnh mạch của CellCept không được pha trộn hoặc truyền đồng thời với các dung dịch truyền tĩnh mạch khác trên cùng một đường truyền, ngoại trừ dung dịch Dextrose.

Mô tả chi tiết

Thuốc Cellcept 250mg Roche dự phòng hiện tượng thải ghép cấp tính là gì? Viên nang Cellcept 250mg là dược phẩm do hãng Roche S.p.A nghiên cứu và sản xuất, có thành phần hoạt chất chính là Mycophenolate Mofetil (MMF). Chỉ định điều trị của thuốc Đối với người nhận ghép thận: Thuốc được chỉ định sử dụng trong phác đồ điều trị cho nhóm đối tượng này. Đối với người nhận ghép tim: Hoạt chất MMF đóng vai trò hỗ trợ nâng cao tỷ lệ sống sót cho bệnh nhân trong giai đoạn 1 năm đầu sau ca phẫu thuật.

Dữ liệu được ghi nhận vào 2026-08-28T04:04:51.422Z. Dược Hub cung cấp thông tin tham khảo, không bán thuốc trực tuyến và không thay thế tư vấn của bác sĩ hoặc dược sĩ. Giá thuốc và tồn kho không được công bố tại URL này.