← Danh mục thuốc

Thông tin sản phẩm tham khảo

Thuốc Femara 2.5mg Novartis hỗ trợ điều trị ung thư vú (3 vỉ x 10 viên)

Hoạt chất: Letrozole 2.5mgCông dụng: Điều trị ung thư vú...Đối tượng sử dụng: người lớnHình thức: viên nén bao phimThương hiệu: NovartisNơi sản xuất: Thuỵ Sĩ*Thuốc chỉ dùng theo đơn của bác sĩ

Thương hiệu
Novartis
Phân loại
Thuốc kê đơn
Số đăng ký
760110186923
Quy cách/đơn vị
Hộp
Nhà sản xuất
Novartis

Công dụng / chỉ định

Công dụng của Femara 2.5mg Novartis hỗ trợ Chỉ định sử dụng Thuốc Femara được sử dụng nhằm mục đích điều trị cho các đối tượng và trường hợp cụ thể sau: Hỗ trợ điều trị cho bệnh nhân là phụ nữ đã mãn kinh mắc ung thư vú giai đoạn sớm có thụ thể hormone dương tính. Điều trị hỗ trợ kéo dài ở phụ nữ sau mãn kinh bị ung thư vú giai đoạn đầu, áp dụng cho những người trước đó đã hoàn thành liệu trình hỗ trợ chuẩn bằng tamoxifen. Lựa chọn đầu tay trong điều trị ung thư vú tiến triển phụ thuộc hormone ở đối tượng phụ nữ sau mãn kinh. Điều trị tình trạng ung thư vú tiến triển cho phụ nữ đã mãn kinh (tự nhiên hoặc nhân tạo) có tiền sử trị liệu bằng các thuốc kháng estrogen. Điều trị tiền phẫu cho phụ nữ sau mãn kinh mắc ung thư vú khu trú có thụ thể hormone dương tính, giúp tạo điều kiện thực hiện phẫu thuật bảo tồn vú cho những ca vốn không đủ chỉ định ban đầu. Sau khi phẫu thuật, quá trình điều trị tiếp tục cần tuân thủ theo phác đồ chuẩn. Cơ chế tác dụng (Dược lực học) Để ngăn chặn sự phát triển của các khối u phụ thuộc estrogen, việc triệt tiêu tác động kích thích của hormone này là yếu tố quyết định. Ở cơ thể phụ nữ sau mãn kinh, nguồn estrogen chủ yếu được tổng hợp nhờ enzyme aromatase – tác nhân chuyển đổi các androgen từ tuyến thượng thận (gồm androstenedione và testosterone) thành oestrone (E1) và oestradiol (E2). Do đó, hoạt động ức chế chuyên biệt enzyme aromatase sẽ giúp giảm thiểu sự sinh tổng hợp estrogen tại các mô ngoại biên và mô ung thư. Hoạt chất Letrozole đóng vai trò là một chất ức chế aromatase không steroid. Cơ chế hoạt động của chất này là cạnh tranh gắn vào hem của tiểu đơn vị cytochrome Paso thuộc enzyme aromatase, từ đó làm suy giảm quá trình sinh tổng hợp estrogen ở mọi mô trong cơ thể. Nghiên cứu trên phụ nữ sau mãn kinh khỏe mạnh cho thấy, sử dụng các liều đơn 0,1 mg , 0,5 mg và 2,5 mg Letrozole giúp ức chế nồng độ oestrone huyết thanh lần lượt từ 75% đến 78%, đồng thời giảm 78% nồng độ oestradiol so với ban đầu. Hiệu quả ức chế cực đại ghi nhận được trong khoảng từ 48 đến 78 giờ. Đối với bệnh nhân sau mãn kinh bị ung thư vú tiến triển, chế độ liều từ 0,1 đến 5 mg /ngày giúp hạ thấp nồng độ oestradiol, oestrone và oestrone sulphate trong huyết tương từ 75% đến 95% so với mức nền ở toàn bộ đối tượng tham gia. Khi dùng liều từ 0,5 mg trở lên, lượng oestrone và oestrone sulphate giảm xuống dưới ngưỡng phát hiện của các xét nghiệm, chứng tỏ các mức liều này mang lại hiệu quả ức chế estrogen mạnh mẽ hơn. Tác dụng ức chế này được duy trì liên tục trong suốt liệu trình điều trị. Letrozole thể hiện tính chọn lọc rất cao đối với enzyme aromatase và không gây ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp steroid của tuyến thượng thận. Ở những bệnh nhân sau mãn kinh dùng liều từ 0,1 đến 5 mg /ngày, không tìm thấy biến động lâm sàng ý nghĩa nào đối với nồng độ cortisol, aldosterone, 11-deoxycortisol, 17-hydroxy-progesterone, ACTH hay hoạt tính renin trong huyết tương. Nghiên cứu kích thích ACTH sau 6 đến 12 tuần điều trị bằng các mức liều 0,1 mg , 0,25 mg , 0,5 mg , 1 mg , 2,5 mg và 5 mg cho thấy chức năng sản xuất aldosterone và cortisol không bị suy giảm. Vì vậy, bệnh nhân không cần phải bổ sung thêm glucocorticoid hay corticoid khoáng. Nồng độ các androgen huyết tương (gồm androstenedione và testosterone) ở phụ nữ sau mãn kinh khỏe mạnh không thay đổi sau khi dùng liều đơn 0,1 mg , 0,5 mg và 2,5 mg Letrozole . Tương tự, nồng độ androstenedione huyết tương ở bệnh nhân sau mãn kinh dùng liều 0,1 đến 5 mg /ngày cũng không biến động, chứng tỏ việc chặn đứng sinh tổng hợp estrogen không gây ra hiện tượng tích lũy tiền chất androgen. Ngoài ra, thuốc không làm ảnh hưởng đến nồng độ LH, FSH cũng như chức năng tuyến giáp (được đánh giá qua các chỉ số TSH, T4 và T3). Điều trị bổ trợ Nghiên cứu BIG 1-98 Đây là thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi, đa trung tâm thực hiện trên hơn 8.000 bệnh nhân nữ sau mãn kinh mắc ung thư vú giai đoạn sớm có thụ thể hormone dương tính đã được phẫu thuật cắt u. Bệnh nhân được phân vào một trong bốn nhánh điều trị: Nhánh A: Dùng tamoxifen trong vòng 5 năm. Nhánh B: Dùng Femara trong vòng 5 năm. Nhánh C: Dùng tamoxifen trong 2 năm, sau đó chuyển sang Femara trong 3 năm tiếp theo. Nhánh D: Dùng Femara trong 2 năm, sau đó chuyển sang tamoxifen trong 3 năm tiếp theo. Mục tiêu của nghiên cứu nhằm làm rõ hai vấn đề: Hiệu quả của việc dùng Femara liên tục 5 năm so với tamoxifen liên tục 5 năm (phân tích cốt lõi chính và phân tích đơn trị liệu), và việc luân chuyển liệu pháp nội tiết sau 2 năm có ưu việt hơn việc duy trì một loại thuốc suốt 5 năm hay không (phân tích điều trị tiếp theo). Các tiêu chí đánh giá bao gồm: Sống còn không mắc bệnh (DFS - tiêu chí chính), sống còn toàn bộ (OS), sống còn không mắc bệnh lâu dài (DDFS), sống còn không mắc bệnh toàn thân (SDFS), tỷ lệ ung thư vú hai bên xâm lấn và thời gian xuất hiện di căn xa. Kết quả sau thời gian theo dõi trung bình 26 tháng Số liệu ở Bảng 2 thể hiện kết quả từ Phân tích cốt lõi chính (PCA), tổng hợp từ các nhóm đơn trị liệu không chuyển đổi (nhánh A và B) cùng dữ liệu được kiểm duyệt 30 ngày sau khi chuyển thuốc ở hai nhóm luân chuyển (nhánh C và D). Phân tích này được thực hiện tại thời điểm thời gian điều trị trung bình đạt 24 tháng và theo dõi trung bình đạt 26 tháng. Kết quả cho thấy Femara vượt trội hơn tamoxifen ở hầu hết các tiêu chí, ngoại trừ tỷ lệ sống còn toàn bộ và ung thư vú hai bên. Bảng 2: Tỷ lệ sống còn không mắc bệnh và sống còn toàn bộ (nhóm PCA ITT) với thời gian theo dõi trung bình 26 tháng. Femara N = 4003 Tamoxifen N = 4007 Tỷ số nguy cơ (95% CI) Trị số p¹ Còn sống không mắc bệnh (kết cuộc chính) Các trường hợp (toàn bộ, xác định qua đề cương nghiên cứu) 351 428 0,81 (0,70, 0,93) 0,0030 Thời gian đến lúc bị di căn xa (kết cuộc phụ) 184 249 0,73 (0,60, 0,88) 0,0012 Còn sống không mắc bệnh trong thời gian dài (kết cuộc phụ) 265 318 0,82 (0,70, 0,97) 0,0204 Còn sống nói chung (kết cuộc phụ) Số tử vong (tổng số) 166 192 0,86 (0,70, 1,06) 0,1546 Còn sống không mắc bệnh toàn thân (kết cuộc phụ) 323 383 0.83 (0,72, 0,97) 0,0172 Ung thư vú hai bên (xâm lấn) (kết cuộc phụ) 19 31 0,61 (0,35, 1,08) 0,0910 CI = khoảng tin cậy 1: Phép thử Logrank, được phân tầng bằng cách chọn ngẫu nhiên và sử dụng hóa liệu pháp bổ trợ trước. Kết quả MAA với thời gian theo dõi trung bình 73 tháng Phân tích các nhóm đơn trị liệu (MAA) cung cấp các dữ liệu dài hạn có giá trị lâm sàng cao về hiệu so sánh giữa Femara đơn trị và tamoxifen đơn trị (Bảng 3). Vào năm 2005, sau khi công bố dữ liệu PCA và nhận khuyến nghị từ Hội đồng Kiểm soát Dữ liệu độc lập, nghiên cứu đã được mở mù và các bệnh nhân thuộc nhóm tamoxifen được phép chuyển sang dùng Femara. Có 26% số bệnh nhân được phân ngẫu nhiên đã thực hiện chuyển đổi sang dùng Femara (bao gồm một tỷ lệ rất nhỏ chuyển sang các chất ức chế aromatase khác). Nhằm loại bỏ ảnh hưởng của việc chuyển đổi chủ động này, một phân tích kiểm duyệt vào ngày chuyển đổi ở nhóm tamoxifen đã được thực hiện trong MAA (Bảng 3). Tại thời điểm theo dõi trung bình 73 tháng và thời gian điều trị trung bình 60% (tương đương 60 tháng), Femara giúp giảm đáng kể nguy cơ DFS so với tamoxifen (phân tích MAA ITT: HR 0.88% , CI 95% 0,78, 0,99; P = 0,03), đồng nhất với kết quả PCA năm 2005. Phân tích kiểm duyệt đối với DFS cũng cho thấy lợi ích tương đương (HR 0.85% ; CI 95% 0,75, 0,96). Phân tích cập nhật này tiếp tục khẳng định ưu thế của Femara trong việc giảm nguy cơ đối với tiêu chí sống còn không mắc bệnh lâu dài (HR 0.87% , CI 95% 0,76, 1,00) và kéo dài thời gian xuất hiện di căn xa (HR 0.85% ; CI 95% 0,72, 1,00). Xu hướng cải thiện sống còn toàn bộ cũng được ghi nhận trong phân tích ITT, đặc biệt phân tích kiểm duyệt cho thấy lợi ích sống còn toàn bộ vượt trội rõ rệt ở nhóm dùng Femara (HR 0.82% , CI 95% 0,70, 0,96). Bảng 3: Tỷ lệ sống còn không mắc bệnh và sống còn toàn bộ (nhóm PCA ITT) với thời gian theo dõi trung bình 73 tháng. Femara N = 2463 Tamoxifen N = 2459 Tỷ số nguy cơ (95% CI) Trị số p¹ Còn sống không mắc bệnh (kết cuộc chính) Các trường hợp (toàn bộ, xác định qua đề cương nghiên cứu) 509 565 0,88 (0,78, 0,99) 0,03 Thời gian đến lúc bị di căn xa (kết cuộc phụ) 257 298 0,85 (0,72, 1,00) 0,045 Còn sống không mắc bệnh trong thời gian dài (kết cuộc phụ) 385 432 0,87 (0,76, 1,00) 0,049 Còn sống nói chung (kết cuộc phụ) Số tử vong (tổng số) 303 343 0,87 (0,75, 1,02) 0,08 Còn sống không mắc bệnh toàn thân (kết cuộc phụ) 465 512 0.89 (0,79, 1,01) 0,065 Ung thư vú hai bên (xâm lấn) (kết cuộc phụ) 34 44 0,76 (0,49, 1,19) 0,2 Phân tích có kiểm duyệt của DFS 509 543 0.85 (0.75,0.96) - Phân tích có kiểm duyệt của số còn sống nói chung 338 338 0.82 (0.70,0.96) - CI = khoảng tin cậy 1: Phép thử Logrank, được phân tầng bằng cách chọn ngẫu nhiên và sử dụng hóa liệu pháp bổ trợ trước. Phân tích điều trị tiếp theo Phân tích điều trị tiếp theo (STA) được thực hiện với thời gian theo dõi trung bình 48 tháng nhằm giải quyết câu hỏi nghiên cứu thứ hai. Phân tích chính của STA được tính từ thời điểm chuyển đổi thuốc cộng thêm 30 ngày (STA-S), áp dụng phép thử hai bên so sánh từng cặp ở mức ý nghĩa 2,5%. Ngoài ra, một phân tích thăm dò tính từ lúc phân nhóm ngẫu nhiên (STA-R) với thời gian theo dõi trung bình 67 tháng cũng được tiến hành, sử dụng khoảng tin cậy 99% để đánh giá tỷ số nguy cơ. Kết quả theo dõi trung bình 48 tháng cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa lâm sàng nào ở các tiêu chí đánh giá giữa các nhóm chuyển đổi trong phân tích STA so với nhóm đơn trị liệu (ví dụ: nhóm dùng tamoxifen 2 năm rồi chuyển sang Femara 3 năm so với nhóm dùng tamoxifen trên 2 năm có DFS HR = 0,89, CI 97,5% : 0,68 - 1,15; nhóm dùng Femara 2 năm rồi chuyển sang tamoxifen 3 năm so với nhóm dùng Femara trên 2 năm có DFS HR = 0,93, CI 97,5% : 0,71 - 1,22). Tương tự, ở mốc theo dõi trung bình 67 tháng, phân tích STA tính từ lúc ngẫu nhiên hóa cũng không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa ở bất kỳ tiêu chí nào (ví dụ: nhóm dùng tamoxifen 2 năm rồi chuyển sang Femara 3 năm so với nhóm dùng Femara 5 năm có DFS HR = 1,10, CI 99% : 0,86 - 1,41; nhóm dùng Femara 2 năm rồi chuyển sang tamoxifen 3 năm so với nhóm dùng Femara 5 năm có DFS HR = 0,96, CI 99% : 0,74 - 1,24). Không có bằng chứng lâm sàng nào chứng minh việc phối hợp nối tiếp Femara và tamoxifen mang lại hiệu quả tốt hơn so với việc dùng đơn trị liệu Femara liên tục trong 5 năm. Dữ liệu an toàn với thời gian điều trị trung bình 60 tháng Trong thử nghiệm BIG-98 với thời gian điều trị trung bình 60% (tương đương 60 tháng), các biến cố bất lợi ghi nhận được hoàn toàn phù hợp với hồ sơ an toàn của thuốc. Các phản ứng phụ cụ thể đã được đưa vào danh mục phân tích trước dựa trên đặc tính dược lý của cả hai hoạt chất. Các biến cố bất lợi được thống kê không phụ thuộc vào mối quan hệ nhân quả với thuốc điều trị. Phần lớn các phản ứng phụ được báo cáo (xảy ra ở khoảng 75% bệnh nhân có ít nhất một biến cố) ở mức độ nhẹ đến trung bình (Cấp độ 1 và Cấp độ 2 theo tiêu chuẩn CTC phiên bản 2,0% hoặc CTCAE phiên bản 3.0). Khi đánh giá mọi cấp độ biến cố trong quá trình điều trị, nhóm sử dụng Femara ghi nhận tỷ lệ gặp cao hơn nhóm tamoxifen ở các tình trạng sau: tăng cholesterol máu ( 52% so với 29% ), gãy xương ( 10,1% so với 7,1% ), nhồi máu cơ tim ( 1% so với 0,5% ), loãng xương ( 5,1% so với 2,7% ) và đau khớp ( 25,2% so với 20,4% ). Ngược lại, nhóm bệnh nhân dùng tamoxifen có tỷ lệ gặp cao hơn so với nhóm Femara ở các biến cố: bốc hỏa ( 38% so với 33% ), đổ mồ hôi trộm ban đêm ( 17% so với 15% ), xuất huyết âm đạo ( 13% so với 5,2% ), táo bón ( 2,9% so với 2,0% ), các biến cố thuyên tắc mạch ( 3,6% so với 2,1% ), tăng sinh hoặc ung thư nội mạc tử cung ( 2,9% so với 0,3% ), và tăng sản hoặc ung thư nội mạc tử cung ( 1,8% so với 0,3% ). Điều trị bổ trợ ung thư vú giai đoạn đầu, nghiên cứu D2407 Nghiên cứu D2407 là một thử nghiệm lâm sàng pha III, thiết kế nhãn mở, ngẫu nhiên, đa trung tâm nhằm so sánh tác động của liệu pháp hỗ trợ bằng letrozole so với tamoxifen lên mật độ khoáng xương (BMD), các chỉ dấu chuyển hóa xương và chỉ số lipid máu lúc đói. Nghiên cứu tiến hành trên 262 phụ nữ sau mãn kinh mắc ung thư vú nguyên phát nhạy cảm với hormone đã được phẫu thuật cắt u. Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên để dùng Letrozole 2,5 mg /ngày trong 5 năm, hoặc dùng tamoxifen 20mg /ngày trong 2 năm rồi chuyển sang dùng Letrozole 2,5 mg /ngày trong 3 năm tiếp theo. Tiêu chí đánh giá chính là sự thay đổi phần trăm BMD tại cột sống thắt lưng (L2 – L4) sau 2 năm điều trị so với thời điểm ban đầu giữa hai nhóm thuốc. Sau 24 tháng, nhóm dùng letrozole ghi nhận mức giảm trung bình BMD cột sống thắt lưng là 4,1% , trong khi nhóm dùng tamoxifen ghi nhận mức tăng trung bình 0,3% (chênh lệch giữa hai nhóm là 4,4% ). Sự khác biệt về biến động BMD cột sống thắt lưng sau 2 năm giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê với ưu thế thuộc về nhóm tamoxifen (P Dữ liệu thực tế cho thấy không có trường hợp nào có BMD bình thường ở thời điểm ban đầu chuyển sang trạng thái loãng xương sau 2 năm. Chỉ ghi nhận duy nhất 1 bệnh nhân có tình trạng thiếu xương lúc đầu (chỉ số T-score là -1,9) tiến triển thành loãng xương trong suốt quá trình điều trị (theo đánh giá của trung tâm xét duyệt). Kết quả biến động BMD ở xương hông toàn bộ cũng ghi nhận xu hướng tương tự như ở cột sống thắt lưng, dù mức độ chênh lệch ít rõ rệt hơn. Sau 2 năm, nhóm tamoxifen thể hiện ưu thế rõ rệt về chỉ số BMD toàn bộ và ở tất cả các phân nhóm (P 15% (20 bệnh nhân) ở nhóm letrozole và 17% (22 bệnh nhân) ở nhóm tamoxifen. Về chỉ số lipid, nhóm dùng tamoxifen ghi nhận nồng độ cholesterol toàn phần trung bình giảm 16% sau 6 tháng so với ban đầu và duy trì mức giảm này cho đến tháng thứ 24. Trong khi đó, nhóm dùng letrozole có nồng độ cholesterol toàn phần tương đối ổn định, không tăng đáng kể qua các mốc kiểm tra. Sự khác biệt về chỉ số cholesterol giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê tại mọi thời điểm đánh giá với ưu thế nghiêng về tamoxifen (P Điều trị bổ trợ kéo dài Thử nghiệm lâm sàng CFEM345G MA-17 là nghiên cứu đa trung tâm, ngẫu nhiên, mù đôi, kiểm soát bằng giả dược thực hiện trên hơn 5.100 bệnh nhân nữ sau mãn kinh mắc ung thư vú có thụ thể dương tính (hoặc không rõ u nguyên phát) đã hoàn thành liệu trình hỗ trợ chuẩn bằng tamoxifen từ 4,5 đến 6 năm và đang duy trì trạng thái không mắc bệnh. Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên vào nhóm dùng Femara hoặc nhóm dùng giả dược. Phân tích chính tại thời điểm theo dõi trung bình khoảng 28 tháng (với 25% đối tượng được theo dõi tới 38% , tương đương 38 tháng) chứng minh Femara giúp giảm tới 42% nguy cơ tái phát bệnh so với nhóm giả dược (tỷ số nguy cơ 0,58; P = 0,00003). Các phân tích độ nhạy sau đó đã xác thực độ tin cậy của kết quả này. Lợi ích cải thiện DFS nghiêng về nhóm letrozole đạt ý nghĩa thống kê bất kể tình trạng di căn hạch của bệnh nhân (tỷ số nguy cơ đạt 0,48 ở nhóm không có hạch, P = 0,002; và đạt 0,61 ở nhóm có hạch, P = 0,002). Vào năm 2003, sau khi nghiên cứu được mở mù, Ủy ban Kiểm tra Dữ liệu và Độ an toàn độc lập đã khuyến nghị cho phép các bệnh nhân đang dùng giả dược chuyển sang dùng Femara với thời gian tối đa 5 năm. Trong báo cáo cập nhật cuối cùng vào năm 2008, có 1551 phụ nữ (chiếm 60% số đối tượng đủ điều kiện) đã thực hiện chuyển đổi từ giả dược sang dùng Femara sau thời gian trung bình 31 tháng kể từ khi dừng tamoxifen. Thời gian sử dụng Femara trung bình sau khi chuyển đổi là 40 tháng. Phân tích cuối cùng ở mốc theo dõi trung bình 62 tháng tiếp tục xác nhận Femara giúp giảm đáng kể nguy cơ tái phát ung thư vú so với giả dược, bất chấp việc 60% bệnh nhân nhóm giả dược đã chuyển sang dùng Femara sau khi mở mù. Thời gian điều trị trung bình ở nhóm Femara là 60% (tương đương 60 tháng), còn ở nhóm giả dược là 37 tháng. Tỷ lệ DFS sau 4 năm theo đề cương nghiên cứu của nhóm Femara được ghi nhận đồng nhất giữa hai lần phân tích năm 2004 và 2008, chứng minh hiệu quả bền vững và ổn định của việc điều trị dài hạn bằng Femara. Ở nhóm giả dược, sự gia tăng tỷ lệ DFS sau 4 năm trong phân tích cập nhật là hệ quả trực tiếp từ việc 60% bệnh nhân chuyển sang dùng Femara, điều này cũng lý giải vì sao khoảng cách hiệu quả giữa hai nhóm điều trị bị thu hẹp lại. Trong phân tích ban đầu đối với tiêu chí phụ là sống còn toàn bộ (OS), có tổng cộng 113 ca tử vong được ghi nhận (51 ca ở nhóm Femara và 62 ca ở nhóm giả dược). Nhìn chung, chưa tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về OS giữa hai nhóm điều trị (tỷ số nguy cơ 0,82, P = 0,29). Tuy nhiên, đối với phân nhóm bệnh nhân có hạch, Femara giúp giảm tới 40% nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân (tỷ số nguy cơ 0,61, P = 0,035). Hiệu quả này chưa đạt ý nghĩa thống kê ở nhóm bệnh nhân không có hạch (tỷ số nguy cơ 1,36, P = 0,385), cũng như ở các phân nhóm có hoặc không có tiền sử hóa trị trước đó. Chi tiết về kết quả được trình bày thêm tại bảng 4, bảng 5 trong tờ hướng dẫn sử dụng. Hấp thu và chuyển hoá thuốc (Dược động học) Hấp thu Hoạt chất Letrozole được hấp thu rất nhanh và hoàn toàn qua hệ tiêu hóa, với sinh khả dụng tuyệt đối trung bình đạt tới 99,9% . Sự có mặt của thức ăn có thể làm giảm nhẹ tốc độ hấp thu của thuốc: thời gian đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương (Tmax trung bình) kéo dài từ 1 giờ khi đói lên 2 giờ sau khi ăn; nồng độ đỉnh trung bình (Cmax) giảm từ 129 ± 20,3 nmol/L khi đói xuống còn 98,7 ± 18,6 nmol/L sau khi ăn. Tuy nhiên, tổng lượng hấp thu (diện tích dưới đường cong - AUC) không bị ảnh hưởng. Do sự suy giảm tốc độ hấp thu này không gây ra ảnh hưởng lâm sàng đáng kể, bệnh nhân có thể uống Letrozole vào bất kỳ thời điểm nào mà không cần phụ thuộc vào bữa ăn. Phân bố Tỷ lệ liên kết của Letrozole với protein huyết tương là khoảng 60%, trong đó chủ yếu gắn với albumin ( 55% ). Nồng độ hoạt chất trong hồng cầu chiếm khoảng 80% so với nồng độ đo được trong huyết tương. Sau khi sử dụng liều 2,5 mg Letrozole được đánh dấu phóng xạ 14 C, khoảng 82% lượng phóng xạ trong huyết tương tồn tại dưới dạng hoạt chất nguyên bản chưa chuyển hóa. Do đó, mức độ phơi nhiễm toàn thân đối với các chất chuyển hóa là rất thấp. Thuốc có khả năng phân bố nhanh và rộng khắp các mô trong cơ thể, với thể tích phân bố biểu kiến ở trạng thái ổn định đạt khoảng 1,87 +0,47 L/kg. Chuyển hóa và thải trừ Con đường đào thải chính của Letrozole là chuyển hóa qua gan thành chất chuyển hóa carbinol không còn hoạt tính dược lý (tốc độ thanh thải chuyển hóa CLm = 2,1 L/giờ ), tốc độ này tương đối chậm so với lưu lượng máu qua gan (khoảng 90 L/giờ). Quá trình chuyển hóa này được thực hiện bởi các isoenzyme CYP3A4 và CYP2A6 thuộc hệ cytochrome P450. Các con đường thải trừ khác như tạo thành các chất chuyển hóa phụ chưa xác định, bài tiết trực tiếp qua phân và nước tiểu chỉ đóng vai trò thứ yếu. Trong vòng 2 tuần sau khi dùng liều 2,5 mg Letrozole gắn phóng xạ cho phụ nữ sau mãn kinh khỏe mạnh, ghi nhận 88,2 ± 7,6% hoạt tính phóng xạ được đào thải qua nước tiểu và 3,8 ± 0,9% qua phân. Trong vòng 216 giờ, tối thiểu 75% lượng phóng xạ trong nước tiểu (tương đương 84,7 ± 7,8% liều dùng) tồn tại dưới dạng liên hợp glucuronide của chất chuyển hóa carbinol, khoảng 9% thuộc về hai chất chuyển hóa chưa rõ danh tính, và 6% là Letrozole dạng nguyên bản. Tại hệ microsome người với các isozyme CYP đặc hiệu, CYP3A4 chịu trách nhiệm chuyển hóa Letrozole thành chất chuyển hóa carbinol, trong khi CYP2A6 chuyển hóa hoạt chất này thành cả chất chuyển hóa carbinol và dẫn xuất ketone của nó. Ở microsome gan người, Letrozole thể hiện tác dụng ức chế mạnh đối với CYP2A6 và ức chế ở mức độ trung bình đối với CYP2C19. Thời gian bán thải biểu kiến pha cuối trong huyết tương của thuốc kéo dài khoảng 2 ngày. Khi duy trì liều dùng 2,5 mg /ngày, nồng độ thuốc trong huyết tương sẽ đạt trạng thái ổn định trong vòng từ 2 đến 6 tuần. Nồng độ ở trạng thái ổn định này cao hơn khoảng 7 lần so với nồng độ sau khi dùng liều đơn 2,5 mg , và cao hơn từ 1,5 đến 2 lần so với giá trị dự tính lý thuyết từ liều đơn. Điều này cho thấy dược động học của Letrozole có biểu hiện không tuyến tính nhẹ ở mức liều 2,5 mg /ngày. Tuy nhiên, do nồng độ ở trạng thái ổn định được duy trì ổn định theo thời gian nên không xảy ra hiện tượng tích lũy thuốc liên tục trong cơ thể. Yếu tố tuổi tác được ghi nhận là không gây ảnh hưởng đến các thông số dược động học của Letrozole .

Thành phần

Thành phần của Thuốc Femara 2.5mg Novartis Mỗi 1 viên nén của sản phẩm được cấu tạo từ hoạt chất chính là Letrozole với hàm lượng tương đương 2.5mg .

Cách dùng

Cách dùng Thuốc Femara 2.5mg Novartis hỗ trợ Hướng dẫn cách sử dụng Người bệnh sử dụng thuốc bằng đường uống trực tiếp, thời điểm uống có thể trước hoặc sau khi ăn đều được. Liều dùng phù hợp Dành cho người trưởng thành và người cao tuổi Liều dùng hằng ngày: Sử dụng mỗi ngày 1 lần với liều lượng 2,5 mg. Trường hợp điều trị bổ trợ hoặc bổ trợ kéo dài: Duy trì liệu trình sử dụng trong vòng 5 năm hoặc dừng lại ngay khi phát hiện khối u tái phát (tùy thuộc vào điều kiện nào xuất hiện trước). Trường hợp bệnh nhân đã di căn: Tiến hành điều trị liên tục cho tới khi nhận thấy khối u có dấu hiệu tiến triển rõ rệt. Đối với người cao tuổi: Không yêu cầu phải thay đổi lượng thuốc sử dụng. Dành cho đối tượng trẻ em Chống chỉ định sử dụng sản phẩm này cho nhóm đối tượng trẻ em. Dành cho người bệnh bị suy giảm chức năng gan hoặc thận Không cần điều chỉnh lượng thuốc đối với người bị suy thận (chỉ số độ thanh thải creatinine đạt trên 10 ml/phút) hoặc người bị suy gan. Cần tiến hành theo dõi sát sao và cẩn trọng đối với những trường hợp bị suy gan mức độ nặng (phân loại Child-Pugh nhóm C). Khuyến cáo: Thông tin liều dùng phía trên chỉ có giá trị tham khảo. Liều lượng điều trị thực tế sẽ được quyết định dựa trên tình trạng sức khỏe và tiến triển bệnh lý của từng cá nhân. Người bệnh cần chủ động tham vấn ý kiến từ bác sĩ hoặc các chuyên gia y tế để có chỉ định phù hợp nhất. Khi dùng quá liều phải làm sao? Khi gặp phải tình huống khẩn cấp do dùng quá liều, người nhà cần liên hệ ngay với Đường dây nóng cấp cứu 115 hoặc nhanh chóng đưa người bệnh tới cơ sở y tế gần nhất tại địa phương để được xử lý. Liều dùng phù hợp Hãy uống bổ sung ngay khi nhớ ra nếu bạn lỡ quên một liều. Dù vậy, trong trường hợp thời gian nhận ra gần sát với thời điểm uống liều tiếp theo, hãy bỏ qua liều cũ và tiếp tục lịch trình dùng thuốc như bình thường. Tuyệt đối không tự ý uống bù bằng cách tăng gấp đôi lượng thuốc trong một lần dùng.

Lưu ý và cảnh báo

Những điều cần lưu ý khi sử dụng Người bệnh cần chủ động tìm hiểu kỹ hướng dẫn đi kèm và tham khảo các thông tin y khoa dưới đây trước khi bắt đầu quá trình điều trị. Trường hợp không nên sử dụng Nghiêm cấm chỉ định Femara cho các đối tượng sau: Người có tiền sử dị ứng hoặc mẫn cảm với hoạt chất chính hay bất kỳ tá dược nào cấu thành nên thuốc. Nữ giới chưa bước vào giai đoạn mãn kinh (tình trạng nội tiết tiền mãn kinh). Phụ nữ đang trong thai kỳ hoặc người đang nuôi con bằng sữa mẹ. Cảnh báo và thận trọng Đối với người bệnh suy giảm chức năng thận: Do chưa có dữ liệu nghiên cứu lâm sàng ở nhóm bệnh nhân có chỉ số thanh thải creatinine dưới 10ml /phút, việc chỉ định điều trị cần được bác sĩ cân nhắc kỹ lưỡng giữa hiệu quả đạt được và các rủi ro có thể phát sinh. Đối với người bệnh suy giảm chức năng gan: Bệnh nhân mắc suy gan mức độ nặng (phân loại Child-Pugh nhóm C) có thời gian bán thải kéo dài và mức độ phơi nhiễm thuốc cao gấp đôi so với người bình thường. Do đó, nhóm đối tượng này cần được theo dõi y tế liên tục và chặt chẽ. Ảnh hưởng tới hệ xương khớp: Nguy cơ bị gãy xương hoặc loãng xương đã được ghi nhận trong quá trình điều trị bằng Femara. Việc kiểm tra và đánh giá mật độ xương định kỳ là vô cùng cần thiết đối với người bệnh. Khuyến cáo cho phụ nữ mang thai và đang cho con bú Sản phụ trong thai kỳ: Thuốc bị cấm sử dụng cho phụ nữ mang thai. Thực tế đã ghi nhận các ca trẻ sơ sinh bị dị tật bẩm sinh bộ phận sinh dục (như dính môi lớn hoặc môi bé, cơ quan sinh dục không phân định rõ) từ những người mẹ dùng Femara khi mang bầu. Nữ giới trong độ tuổi sinh sản: Bác sĩ điều trị có trách nhiệm tư vấn và yêu cầu bệnh nhân áp dụng các biện pháp tránh thai an toàn, áp dụng cho cả phụ nữ chuẩn bị, đang hoặc vừa mới bước vào giai đoạn mãn kinh cho tới khi trạng thái mãn kinh được xác định chắc chắn. Người mẹ đang cho con bú: Chống chỉ định dùng thuốc này trong suốt thời kỳ nuôi con bằng sữa mẹ. Ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc Do thuốc có thể gây ra các phản ứng phụ như mệt mỏi, đau đầu, chóng mặt và đôi khi là buồn ngủ, người dùng cần đặc biệt lưu ý và thận trọng khi phải lái xe hoặc vận hành các thiết bị máy móc. Tương tác với thuốc khác Các thử nghiệm lâm sàng khi phối hợp Femara cùng warfarin hay cimetidine cho thấy không phát sinh các tương tác có ý nghĩa y khoa. Dữ liệu thực tế từ các nghiên cứu lâm sàng cũng chưa phát hiện dấu hiệu tương tác bất lợi nào khi dùng chung Femara với những nhóm thuốc kê đơn phổ biến khác. Hiện tại, y học vẫn chưa có dữ liệu lâm sàng về việc kết hợp Femara cùng các liệu pháp điều trị ung thư khác. Hoạt chất Letrozole có khả năng ức chế in vitro đối với cytochrome P450 isozyme 2A6 và ức chế ở mức trung bình đối với 2C19 (trong đó CYP 2A6 không phải tác nhân chuyển hóa thuốc chủ đạo). Ở các thử nghiệm in vitro, ngay cả khi nồng độ Letrozole cao gấp khoảng 100 lần mức ổn định trong huyết tương, hoạt chất này vẫn không gây ức chế quá trình chuyển hóa diazepam (chất nền của CYP2C19). Vì thế, khả năng xảy ra tương tác lâm sàng với CYP2C19 là rất thấp. Dù vậy, bác sĩ vẫn cần cẩn trọng khi kê đơn đồng thời Femara với các thuốc có phạm vi điều trị hẹp hoặc phụ thuộc chủ yếu vào những isoenzyme này.

Mô tả chi tiết

Thuốc Femara 2.5mg Novartis hỗ trợ là gì? Doanh nghiệp Novartis Pharma Stein AG là đơn vị sản xuất thuốc Femara. Với hoạt chất chính là Letrozole , dược phẩm này được áp dụng trong liệu trình điều trị bổ trợ dành riêng cho đối tượng phụ nữ đã bước vào giai đoạn sau mãn kinh đang đối mặt với căn bệnh ung thư vú ở thời kỳ đầu (áp dụng đối với một số trường hợp lâm sàng cụ thể).

Dữ liệu được ghi nhận vào 2026-08-28T04:04:51.422Z. Dược Hub cung cấp thông tin tham khảo, không bán thuốc trực tuyến và không thay thế tư vấn của bác sĩ hoặc dược sĩ. Giá thuốc và tồn kho không được công bố tại URL này.