← Danh mục thuốc

Thông tin sản phẩm tham khảo

Hapacol prime 500mg/200mg DHG (Hộp 100 viên)

Hapacol prime 500mg/200mg DHG là gì? Thuốc Hapacol Prime là sản phẩm của Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang, có thành phần chính là Paracetamol, Ibuprofen. Viên nén dài màu cam, một mặt có vạch ngang, một mặt có hình thoi, cạnh và thành viên lành lặn. Đây là thuốc được sử dụng để giảm tạm thời các cơn đau nhẹ đến trung bình.

Thương hiệu
DHG Pharma
Phân loại
Thuốc không kê đơn
Quy cách/đơn vị
Hộp
Nhà sản xuất
DHG Pharma

Công dụng / chỉ định

Công dụng của Hapacol prime 500mg/200mg DHG CHỈ ĐỊNH Giảm tạm thời các cơn đau nhẹ đến trung bình trong các trường hợp như: đau nửa đầu, nhức đầu, đau lưng, đau bụng kinh, đau răng, thấp khớp, đau cơ, đau do viêm khớp nhẹ, và các triệu chứng cảm lạnh và cúm, đau họng, sốt. Sản phẩm này đặc biệt thích hợp cho các chứng đau đòi hỏi phải dùng thuốc giảm đau mạnh hơn sử dụng liều đơn ibuprofen hoặc paracetamol. DƯỢC LỰC HỌC Mã ATC: M01AE51 - Hệ cơ xương, sản phẩm chống viêm và chống thấp khớp, không steroid, dẫn xuất acid propionic, Kết hợp ibuprofen. Các hoạt động dược lý của ibuprofen và paracetamol khác nhau ở vị trí và cơ chế tác dụng. Các cơ chế tác dụng bổ sung này có tính hiệp đồng dẫn đến khả năng giảm đau và hạ sốt tốt hơn hơn khi dùng liều đơn. Ibuprofen là một NSAID đã chứng minh hiệu quả trong các mô hình viêm thực nghiệm trên động vật thông thường bằng cách ức chế tổng hợp prostaglandin. Prostaglandin làm các dây thần kinh hướng tâm thụ thể đau nhạy cảm với các chất trung gian như bradykinin. Do đó, ibuprofen có tác dụng giảm đau thông qua ức chế ngoại vi isoenzym cyclooxygenase-2 (COX-2) với việc giảm độ nhạy cảm của các dây thần kinh thụ thể đau. Ibuprofen cũng đã được chứng minh là có thể ức chế sự di chuyển của bạch cầu vào các vùng bị viêm. Ibuprofen có tác dụng rõ rệt trong tủy sống do ức chế COX. Tác dụng hạ sốt của ibuprofen tạo ra bởi sự ức chế trung tâm của các prostaglandin ở vùng dưới đồi. Ibuprofen có chế độ hồi phục sự kết tập tiểu cầu. Ở người, ibuprofen làm giảm đau do viêm, sưng tấy và sốt. Dữ liệu thực nghiệm cho thấy ibuprofen có thể ức chế cạnh tranh tác dụng của acid acetylsalicylic liều thấp trên kết tập tiểu cầu khi dùng đồng thời. Một số nghiên cứu dược lực học cho thấy rằng khi dùng liều duy nhất ibuprofen 400 mg trong vòng 8 giờ trước hoặc trong vòng 30 phút sau khi dùng liều acid acetylsalicylic phóng thích tức thì (81 mg), làm giảm tác dụng của acid acetylsalicylic đối với sự hình thành thromboxan hoặc kết tập tiểu cầu. Mặc dù có những điều chưa chắc chắn liên quan đến việc ngoại suy các dữ liệu này với tình trạng lâm sàng, nhưng không thể loại trừ khả năng sử dụng ibuprofen thường xuyên, lâu dài có thể làm giảm tác dụng bảo vệ tim mạch của acid acetylsalicylic liều thấp. Không có tác dụng lâm sàng nào được coi là có khả năng xảy ra khi sử dụng ibuprofen không thường xuyên. Cơ chế hoạt động chính xác của paracetamol vẫn chưa được xác định hoàn toàn; tuy nhiên có bằng chứng đáng kể để hỗ trợ giả thuyết về tác dụng giảm đau trung ương. Các nghiên cứu sinh hóa khác nhau chỉ ra sự ức chế hoạt động của COX-2 trung ương. Paracetamol cũng có thể kích hoạt hoạt động của các con đường 5-hydroxytryptamin (serotonin) giảm dần gây ức chế sự truyền tín hiệu thụ thể đau trong tủy sống. Bằng chứng cho thấy paracetamol là một chất ức chế rất yếu isoenzym COX-1 và 2 ngoại vi. Hiệu quả lâm sàng của ibuprofen và paracetamol đã được chứng minh trong các cơn đau kèm theo đau đầu, đau răng và thống kinh, và sốt; hơn nữa hiệu quả đã được chứng minh ở những bệnh nhân bị đau và sốt liên quan đến cảm lạnh và cúm và trong các cơn đau như đau họng, đau cơ hoặc chấn thương mô mềm và đau lưng. Sản phẩm này đặc biệt thích hợp cho những cơn đau cần giảm đau mạnh hơn sử dụng liều đơn ibuprofen 400 mg hoặc paracetamol 1000 mg và giảm đau nhanh hơn ibuprofen. DƯỢC ĐỘNG HỌC Ibuprofen được hấp thu tốt qua đường tiêu hóa và liên kết nhiều với protein huyết tương. Ibuprofen khuếch tán vào dịch khớp. Nồng độ ibuprofen trong huyết tương từ sản phẩm này được phát hiện sau 5 phút và nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được trong vòng 1 - 2 giờ sau khi uống khi bụng đói. Khi sản phẩm này được dùng với thức ăn, nồng độ đỉnh ibuprofen trong huyết tương thấp hơn và chậm hơn trung bình 25 phút, nhưng mức độ hấp thu tổng thể là tương đương. Ibuprofen được chuyển hóa ở gan thành hai chất chuyển hóa chính, và bài tiết chủ yếu qua thận, dưới dạng tự do hoặc dưới dạng liên hợp, cùng với một lượng không đáng kể ibuprofen không đổi. Sự bài tiết qua thận vừa nhanh vừa hoàn toàn toàn. Thời gian bán thải khoảng 2 giờ. Trong những nghiên cứu hạn chế, ibuprofen xuất hiện trong sữa mẹ với nồng độ rất thấp. Không có sự khác biệt đáng kể về mặt dược động học của ibuprofen được quan sát thấy ở người cao tuổi. Paracetamol được hấp thu dễ dàng qua đường tiêu hóa. Liên kết với protein huyết tương không đáng kể ở nồng độ điều trị thông thường, mặc dù điều này phụ thuộc vào liều lượng. Nồng độ paracetamol trong huyết tương từ sản phẩm này được phát hiện sau 5 phút và nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được sau 0,5 - 0,67 giờ sau khi uống thuốc lúc bụng đói. Khi sản phẩm này được uống cùng với thức ăn, nồng độ đỉnh paracetamol trong huyết tương thấp hơn và chậm hơn trung bình 55 phút, nhưng mức độ hấp thu tổng thể là tương đương. Paracetamol được chuyển hóa ở gan và bài tiết qua nước tiểu chủ yếu dưới dạng liên hợp glucuronid và sulfat, với khoảng 10% dưới dạng liên hợp glutathion. Dưới 5% được bài tiết dưới dạng paracetamol không đổi. Thời gian bán thải khoảng 3 giờ. Chất chuyển hóa hydroxyl hóa thường được tạo ra với một lượng rất nhỏ bởi các chất oxy hóa chức năng hỗn hợp trong gan và được giải độc bằng cách liên hợp với glutathion ở gan, có thể tích tụ sau khi dùng quá liều paracetamol và gây tổn thương gan. Không có sự khác biệt đáng kể nào về mặt dược động học của paracetamol ở người cao tuổi. Sinh khả dụng và dược động học của ibuprofen và paracetamol từ sản phẩm này không bị thay đổi khi dùng kết hợp với liều duy nhất hoặc liều lặp lại. Sản phẩm này được bào chế bằng công nghệ giải phóng đồng thời cả ibuprofen và paracetamol, để các thành phần hoạt chất mang lại hiệu quả kết hợp.

Thành phần

Thành phần của Hapacol prime 500mg/200mg DHG Mỗi viên chứa Paracetamol 500 mg Ibuprofen 200 mg Tá dược: Lactose monohydrat, microcrystalline cellulose M101, màu sunset yellow lake, màu erythrosin lake, natri starch glycolat, colloidal silicon dioxyd, talc, magnesi stearat, povidon K30.

Cách dùng

Cách dùng của Hapacol prime 500mg/200mg DHG CÁCH DÙNG Dùng đường uống. LIỀU DÙNG Người lớn: Uống 1 viên x 3 lần mỗi ngày. Khoảng cách giữa các liều ít nhất là 6 giờ. Nếu liều 1 viên không kiểm soát được các triệu chứng, có thể dùng tối đa 2 viên x 3 lần mỗi ngày. Khoảng cách giữa các liều ít nhất là 6 giờ. Lưu ý: Chỉ sử dụng thuốc trong thời gian ngắn. Các tác dụng không mong muốn có thể được giảm thiểu bằng cách sử dụng liều thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất để kiểm soát các triệu chứng. Bệnh nhân nên tham khảo ý kiến bác sĩ nếu các triệu chứng vẫn tồn tại hoặc xấu đi hoặc nếu sử dụng sản phẩm trong hơn 3 ngày. Không uống nhiều hơn 6 viên (3000 mg paracetamol, 1200 mg ibuprofen) trong khoảng thời gian 24 giờ. Để giảm thiểu tác dụng phụ, bệnh nhân nên uống thuốc ngay sau bữa ăn. Người cao tuổi: Không cần điều chỉnh liều. Người cao tuổi có nhiều nguy cơ bị các hậu quả nghiêm trọng của các phản ứng có hại. Nếu cần dùng NSAID, nên dùng liều thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất có thể. Bệnh nhân cần được theo dõi thường xuyên về xuất huyết tiêu hóa trong thời gian điều trị NSAID. Không sử dụng cho trẻ em dưới 18 tuổi. Hoặc theo chỉ dẫn của Thầy thuốc. QUÁ LIỀU VÀ CÁCH XỬ TRÍ Paracetamol: Có thể gây tổn thương gan ở người trưởng thành uống ≥ 10g paracetamol (tương đương 20 viên). Uống ≥ 5g paracetamol (tương đương 10 viên) sẽ gây tổn thương gan nếu bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ như sau: Điều trị lâu dài với carbamazepin, phenobarbital, phenytoin, primidon, rifampicin, St John's Wort, các thuốc làm tăng enzym gan. Thường xuyên sử dụng thức uống có cồn quá liều khuyến cáo. Thiếu hụt glutathione, rối loạn ăn uống, xơ nang, nhiễm HIV, đói, suy nhược. Triệu chứng quá liều: Các triệu chứng của quá liều paracetamol trong 24 giờ đầu là xanh xao, buồn nôn, nôn, chán ăn và đau bụng. Tổn thương gan có thể trở nên rõ ràng sau 12 - 48 giờ sau khi uống vì các xét nghiệm chức năng gan trở nên bất thường. Bất thường của chuyển hóa hóa glucose và nhiễm toan chuyển hóa có thể xảy ra. Trong ngộ độc nặng, suy gan có thể tiến triển thành bệnh não, xuất huyết, hạ đường huyết, phù não và tử vong. Suy thận cấp tính với hoại tử ống thận cấp tính, khởi phát bởi đau thắt lưng, tiểu máu và protein niệu, có thể tiến triển ngay cả khi không có tổn thương gan nghiêm trọng. Loạn nhịp tim và viêm tụy cũng đã được báo cáo. Cách xử trí: Điều trị ngay lập tức là rất cần thiết trong quá liều paracetamol. Mặc dù thiếu các dấu hiệu đáng kể của triệu chứng sớm, bệnh nhân nên được chuyển ngay đến bệnh viện để được chăm sóc y tế ngay lập tức. Các triệu chứng có thể được giới hạn ở buồn nôn hoặc nôn và có thể không phản ánh mức độ nghiêm trọng của quá liều hoặc nguy cơ tổn thương cơ quan. Việc xử trí phải phù hợp với các hướng dẫn điều trị đã được thiết lập. Điều trị bằng than hoạt tính nên được xem xét nếu quá liều đã xảy ra trong vòng 1 giờ. Nồng độ paracetamol trong huyết tương nên được đo ở 4 giờ hoặc muộn hơn sau khi uống (nồng độ sớm hơn không đáng tin cậy). Điều trị bằng N - acetylcystein có thể được sử dụng đến 24 giờ sau khi uống paracetamol, tuy nhiên, hiệu quả bảo vệ tối đa là trong vòng 8 giờ sau khi quá liều. Hiệu quả của thuốc giải độc giảm mạnh sau thời gian này. Nếu được yêu cầu, bệnh nhân nên được tiêm tĩnh mạch N - acetylcystein, phù hợp với lịch trình liều được thiết lập. Nếu nôn không phải là vấn đề, methionin đường uống có thể là lựa chọn thay thế phù hợp cho bệnh nhân vùng sâu vùng xa, bên ngoài bệnh viện. Việc chăm sóc bệnh nhân có rối loạn chức năng gan nghiêm trọng sau 24 giờ kể từ khi quá liều nên được thảo luận với các đơn vị chuyên khoa gan mật. Ibuprofen: Ở trẻ em, uống hơn 400 mg/ kg ibuprofen có thể gây ra các triệu chứng. Ở người lớn, tác dụng đáp ứng liều ít rõ ràng hơn. Thời gian bán thải khi dùng quá liều là 1,5 - 3 giờ. Triệu chứng quá liều: Hầu hết những bệnh nhân đã uống một lượng NSAID đáng kể, về mặt lâm sàng sẽ không bị buồn nôn, nôn, đau vùng thượng vị hoặc hiếm khi bị tiêu chảy. Ù tai, nhức đầu và xuất huyết tiêu hóa cũng có thể xảy ra. Trong trường hợp ngộ độc nghiêm trọng hơn, độc tính được thấy ở hệ thần kinh trung ương, biểu hiện là buồn ngủ, thỉnh thoảng bị kích thích và mất phương hướng hoặc hôn mê. Thỉnh thoảng bệnh nhân bị co giật. Trong ngộ độc nghiêm trọng, nhiễm toan chuyển hóa có thể xảy ra và thời gian prothrombin/ INR có thể kéo dài, có thể do can thiệp vào hoạt động của các yếu tố đông máu tuần hoàn. Suy thận cấp và tổn thương gan có thể xảy ra nếu có đồng thời mất nước. Cơn hen kịch phát có thể xảy ra ở bệnh nhân hen. Cách xử trí: Xử trí nền điều trị triệu chứng và hỗ trợ, bao gồm duy trì đường thở thông thoáng, theo dõi tim và các dấu hiệu sinh tồn cho đến khi ổn định. Cân nhắc việc uống than hoạt trong vòng 1 giờ sau khi bệnh nhân uống một lượng lớn có thể gây độc. Nếu co giật thường xuyên hoặc kéo dài, nên được điều trị bằng diazepam hoặc lorazepam tiêm tĩnh mạch. Sử dụng thuốc giãn phế quản để điều trị hen suyễn.

Lưu ý và cảnh báo

Những điều cần lưu ý khi sử dụng TƯƠNG TÁC, TƯƠNG KỴ CỦA THUỐC Sản phẩm này (giống như bất kỳ sản phẩm chứa paracetamol nào khác) được chống chỉ định kết hợp với các sản phẩm khác chứa paracetamol – làm tăng nguy cơ tác dụng phụ nghiêm trọng. Sản phẩm này (giống như bất kỳ sản phẩm nào khác có chứa ibuprofen và NSAID) được chống chỉ định kết hợp với: Acid acetylsalicylic: Không khuyến cáo dùng đồng thời ibuprofen và acid acetylsalicylic vì có khả năng gia tăng tác dụng phụ, trừ khi acid acetylsalicylic liều thấp (không quá 75 mg mỗi ngày) đã được bác sĩ khuyên dùng. Dữ liệu thực nghiệm cho thấy ibuprofen có thể ức chế cạnh tranh tác dụng của acid acetylsalicylic liều thấp lên sự kết tập tiểu cầu khi dùng đồng thời. Mặc dù có những điều chưa chắc chắn liên quan đến việc ngoại suy từ các liệu này vào tình trạng lâm sàng, nhưng không thể loại trừ khả năng sử dụng ibuprofen thường xuyên, lâu dài có thể làm giảm tác dụng bảo vệ tim mạch của acid acetylsalicylic liều thấp. Không có tác dụng lâm sàng nào được coi là có khả năng xảy ra khi sử dụng ibuprofen không thường xuyên. Các NSAID khác bao gồm các chất ức chế chọn lọc cyclo-oxygenase-2 vì có thể làm tăng nguy cơ tác dụng phụ. Sản phẩm này (giống như bất kỳ sản phẩm chứa paracetamol nào khác) nên được sử dụng thận trọng khi kết hợp với: Cholestyramin: Tốc độ hấp thu của paracetamol bị giảm bởi cholestyramin. Do đó, không nên dùng cholestyramin trong vòng một giờ nếu cần giảm đau tối đa. Metoclopramid và domperidon: Metoclopramid và domperidon làm tăng sự hấp thu của paracetamol. Tuy nhiên, không cần thiết phải tránh sử dụng đồng thời. Warfarin: Tác dụng chống đông máu của warfarin và các coumarin khác có thể tăng lên khi sử dụng paracetamol thường xuyên kéo dài làm tăng nguy cơ chảy máu; liều dùng thường xuyên không có tác dụng đáng kể. Sản phẩm này (giống như bất kỳ sản phẩm nào khác có chứa ibuprofen và NSAID) nên được sử dụng thận trọng khi kết hợp với: Thuốc chống đông máu: NSAID có thể làm tăng tác dụng của thuốc chống đông máu, như warfarin. Thuốc điều trị tăng huyết áp (thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ACE) và thuốc đối kháng angiotensin II) và thuốc lợi tiểu: NSAID có thể làm giảm tác dụng của những loại thuốc này. Ở một số bệnh nhân suy giảm chức năng thận (ví dụ như bệnh nhân mất nước hoặc bệnh nhân cao tuổi bị suy giảm chức năng thận), việc sử dụng đồng thời thuốc ức chế ACE hoặc thuốc đối kháng angiotensin II và các thuốc ức chế cyclo-oxygenase có thể làm suy giảm thêm chức năng thận, bao gồm cả suy thận cấp tính, thường có thể hồi phục. Những tương tác này nên được xem xét ở những bệnh nhân dùng coxib đồng thời với thuốc ức chế ACE hoặc thuốc đối kháng angiotensin II. Do đó, sự kết hợp nên được sử dụng thận trọng, đặc biệt là ở người cao tuổi. Bệnh nhân nên được cung cấp đủ nước và nên theo dõi chức năng thận sau khi bắt đầu điều trị đồng thời và định kỳ sau đó. Thuốc lợi tiểu có thể tăng nguy cơ nhiễm độc thận của NSAID. Glycosid tim: NSAID có thể làm trầm trọng thêm tình trạng suy tim, giảm GFR và làm tăng nồng độ glycosid trong huyết tương. Ciclosporin: Tăng nguy cơ nhiễm độc thận. Corticosteroid: Tăng nguy cơ loét hoặc chảy máu đường tiêu hóa. Lithium: Giảm thải trừ lithi. Methotrexat: Giảm thải trừ methotrexat. Mifepriston: Không nên dùng NSAID trong vòng 8-12 ngày sau khi dùng mifepriston vì NSAID có thể làm giảm tác dụng của mifepriston. Thuốc kháng sinh quinolon: Dữ liệu trên động vật cho thấy NSAID có thể làm tăng nguy cơ co giật liên quan đến thuốc kháng sinh quinolon. Bệnh nhân dùng NSAID và quinolon có thể tăng nguy cơ bị co giật. Tacrolimus: Có thể tăng nguy cơ nhiễm độc thận khi dùng NSAID cùng với tacrolimus. Zidovudin: Tăng nguy cơ nhiễm độc máu với NSAID khi dùng zidovudin. Có bằng chứng về sự gia tăng nguy cơ tụ máu khớp và tụ máu ở người bệnh máu khó đông HIV (+) được điều trị đồng thời với zidovudin và ibuprofen. CHỐNG CHỈ ĐỊNH Bệnh nhân có tiền sử quá mẫn với ibuprofen, paracetamol hoặc bất kỳ tá dược nào khác trong sản phẩm. Khi sử dụng đồng thời với các sản phẩm khác có chứa paracetamol – tăng nguy cơ tác dụng phụ nghiêm trọng. Bệnh nhân có tiền sử phản ứng quá mẫn (ví dụ như co thắt phế quản, phù mạch, hen suyễn, viêm mũi hoặc nổi mày đay) liên quan đến acid acetylsalicylic hoặc các thuốc chống viêm không steroid khác (NSAID). Bệnh nhân có tiền sử hoặc đang bị loét hoặc xuất huyết dạ dày tá tràng (hai hoặc nhiều đợt loét hoặc xuất huyết đã được chứng minh). Bệnh nhân có tiền sử hoặc đang bị loét/ thủng hoặc xuất huyết đường tiêu hóa, bao gồm cả bệnh liên quan đến NSAID. Bệnh nhân có khiếm khuyết về đông máu. Bệnh nhân suy gan nặng, suy thận nặng hoặc suy tim nặng (NYHA Class IV). Khi sử dụng đồng thời với các sản phẩm có chứa NSAID khác, bao gồm chất ức chế đặc hiệu cyclo-oxygenase-2 (COX-2) và acid acetylsalicylic liều trên 75 mg mỗi ngày – tăng nguy cơ phản ứng có hại. Trong ba tháng cuối của thai kỳ do nguy cơ đóng ống động mạch của thai nhi sớm và có thể tăng áp lực động mạch phổi. THẬN TRỌNG VÀ CẢNH BÁO ĐẶC BIỆT KHI DÙNG THUỐC Không sử dụng quá liều khuyến cáo. Nếu các triệu chứng vẫn còn, hãy hỏi ý kiến bác sĩ. Để xa tầm nhìn và tầm tay trẻ em. Paracetamol: Các nguy cơ của quá liều paracetamol lớn hơn ở những bệnh nhân bị bệnh gan do rượu không xơ gan. Cần tìm lời khuyên y tế ngay lập tức trong trường hợp quá liều, ngay cả khi bệnh nhân cảm thấy khỏe, vì nguy cơ tổn thương gan nghiêm trọng xảy ra chậm. Không dùng chung với bất kỳ sản phẩm chứa paracetamol nào khác. Nên tìm lời khuyên y tế ngay lập tức nếu điều này xảy ra, ngay cả khi bạn cảm thấy khỏe vì điều này có thể dẫn đến quá liều. Đối với thuốc chứa paracetamol: Bác sĩ cần cảnh báo bệnh nhân về các dấu hiệu của phản ứng trên da nghiêm trọng như hội chứng Stevens-Johnson (SJS), hội chứng hoại tử da nhiễm độc (TEN) hay chứng Lyell, hội chứng ngoại ban mụn mủ toàn thân cấp tính (AGEP). Ibuprofen: Các tác dụng không mong muốn có thể được giảm thiểu bằng cách sử dụng liều thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất để kiểm soát các triệu chứng và uống ngay sau bữa ăn. Người cao tuổi Người cao tuổi có tần suất phản ứng bất lợi tăng với NSAID, đặc biệt là xuất huyết và thủng đường tiêu hóa có thể gây tử vong. Cần sử dụng thận trọng trong những trường hợp sau Rối loạn hô hấp: Bệnh nhân có tiền sử hoặc đang bị hen phế quản hoặc bệnh dị ứng, NSAID đã được báo cáo là gây co thắt phế quản. Lupus ban đỏ hệ thống và bệnh mô liên kết hỗn hợp: Ở những bệnh nhân bị lupus ban đỏ hệ thống (SLE) và rối loạn mô liên kết hỗn hợp có thể tăng nguy cơ viêm màng não vô khuẩn. Ảnh hưởng trên tim mạch và mạch máu não Nguy cơ huyết khối tim mạch: Các thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs), không phải aspirin, dùng đường toàn thân, có thể làm tăng nguy cơ xuất hiện biến cố huyết khối tim mạch, bao gồm cả nhồi máu cơ tim và đột quỵ, có thể dẫn đến tử vong. Nguy cơ này có thể xuất hiện sớm trong vài tuần đầu dùng thuốc và có thể tăng lên theo thời gian dùng thuốc. Nguy cơ huyết khối tim mạch được ghi nhận chủ yếu ở liều cao. Bác sĩ cần đánh giá định kỳ sự xuất hiện của các biến cố tim mạch, ngay cả khi bệnh nhân không có các triệu chứng tim mạch trước đó. Bệnh nhân cần được cảnh báo về các triệu chứng của biến cố tim mạch nghiêm trọng và cần thăm khám bác sĩ ngay khi xuất hiện các triệu chứng này. Để giảm thiểu nguy cơ xuất hiện biến cố bất lợi, cần sử dụng Hapacol Prime ở liều hàng ngày thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất có thể. Cần theo dõi và tư vấn y tế thích hợp cho những bệnh nhân có tiền sử tăng huyết áp và/ hoặc suy tim sung huyết từ nhẹ đến trung bình vì tình trạng giữ nước, tăng huyết áp và phù đã được báo cáo liên quan đến việc sử dụng NSAID. Các nghiên cứu lâm sàng cho thấy việc sử dụng ibuprofen, đặc biệt ở liều cao (2400 mg/ ngày) có thể làm tăng nhẹ nguy cơ biến cố huyết khối động mạch (ví dụ như nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ). Nhìn chung, các nghiên cứu dịch tễ học không cho thấy rằng ibuprofen liều thấp (ví dụ: ≥ 1200mg/ ngày) có liên quan đến tăng nguy cơ biến cố huyết khối động mạch. Bệnh nhân bị tăng huyết áp không kiểm soát được, suy tim sung huyết (NYHA II-III), bệnh tim thiếu máu cục bộ, bệnh động mạch ngoại biên và/ hoặc bệnh mạch máu não chỉ nên được điều trị bằng ibuprofen sau khi đã cân nhắc kỹ lưỡng và nên tránh dùng liều cao (2400 mg/ ngày). Cần cân nhắc cẩn thận trước khi bắt đầu điều trị lâu dài cho những bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ về biến cố tim mạch (ví dụ như tăng huyết áp, tăng lipid máu, đái tháo đường, hút thuốc lá), đặc biệt nếu cần dùng liều cao ibuprofen (2400 mg/ ngày). Suy tim mạch, thận và gan : Việc sử dụng NSAID có thể gây giảm sự hình thành prostaglandin phụ thuộc vào liều và dẫn đến suy thận. Những bệnh nhân có nguy cơ cao bị phản ứng này là những người bị suy giảm chức năng thận, suy tim, rối loạn chức năng gan, những người đang dùng thuốc lợi tiểu và người cao tuổi. Chức năng thận nên được theo dõi ở những bệnh nhân này. Ảnh hưởng trên tiêu hóa: NSAID nên được sử dụng thận trọng cho những bệnh nhân có tiền sử bệnh đường tiêu hóa(viêm loét đại tràng, bệnh Crohn) vì những tình trạng này có thể trở nên trầm trọng hơn. Xuất huyết, loét và thủng đường tiêu hóa (GI), có thể gây tử vong, đã được báo cáo với tất cả các NSAID trong quá trình điều trị, có hoặc không có các triệu chứng cảnh báo hoặc tiền sử về các biến cố GI nghiêm trọng trước đó. Nguy cơ xuất huyết, loét hoặc thủng đường tiêu hóa cao hơn khi tăng liều NSAID, ở những bệnh nhân có tiền sử loét, đặc biệt nếu có biến chứng xuất huyết hoặc thủng và ở người cao tuổi. Những bệnh nhân này nên bắt đầu điều trị với liều thấp nhất. Điều trị kết hợp với các chất bảo vệ (ví dụ như misoprostol hoặc thuốc ức chế bơm proton) nên được xem xét cho những bệnh nhân này, và cả cho những bệnh nhân cần dùng đồng thời acid acetylsalicylic liều thấp hoặc các thuốc khác có khả năng tăng nguy cơ đường tiêu hóa. Bệnh nhân có tiền sử nhiễm độc GI, đặc biệt là người cao tuổi, nên báo cáo bất kỳ triệu chứng bất thường nào ở bụng (đặc biệt là chảy máu GI) đặc biệt trong giai đoạn đầu điều trị. Nên thận trọng ở những bệnh nhân dùng đồng thời với các thuốc có thể làm tăng nguy cơ loét hoặc chảy máu, chẳng hạn như corticosteroid uống, thuốc chống đông máu như warfarin,thuốc ức chế tái hấp thu serotonin chọn lọc hoặc thuốc chống kết tập tiểu cầu như acid acetylsalicylic. Khi xuất hiện loét hoặc xuất huyết GI ở bệnh nhân dùng các sản phẩm có chứa ibuprofen, nên ngừng điều trị. Ảnh hưởng trên da: Phản ứng da nghiêm trọng, một số trường hợp gây tử vong, bao gồm viêm da tróc vẩy, hội chứng Stevens-Johnson và hoại tử biểu bì nhiễm độc độc hại, đã được báo cáo rất hiếm liên quan đến việc sử dụng NSAID. Bệnh nhân có nguy cơ cao xuất hiện các phản ứng sớm trong quá trình điều trị: phần lớn xảy ra trong tháng đầu tiên điều trị. Nên ngừng sử dụng thuốc khi đầu xuất hiện phát ban da, tổn thương niêm mạc hoặc bất kỳ dấu hiệu mẫn cảm nào khác. Suy giảm khả năng sinh sản của phụ nữ: Có ít bằng chứng cho thấy các loại thuốc ức chế tổng hợp cyclo-oxygenase/ prostaglandin có thể làm mất khả năng sinh sản của phụ nữ do ảnh hưởng đến sự rụng trứng và không được khuyến cáo ở phụ nữ đang cố gắng thụ thai. Tình trạng này sẽ hồi phục khi ngừng điều trị. Ở những phụ nữ gặp khó khăn trong việc thụ thai hoặc đang điều trị vô sinh, nên cân nhắc việc ngừng sử dụng sản phẩm. Liên quan đến tá dược Lactose monohydrat: không nên sử dụng ở bệnh nhân có vấn đề về dung nạp galactose, thiếu hụt men lactase hoặc bị rối loạn hấp thu glucose - galactose. Màu sunset yellow lake: có thể gây phản ứng dị ứng. Thuốc này chứa ít hơn 1 mmol natri (23 mg) mỗi viên, có nghĩa là “không có natri”. SỬ DỤNG THUỐC CHO PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ CHO CON BÚ Phụ nữ có thai: Không có kinh nghiệm sử dụng sản phẩm này ở người trong thời kỳ mang thai. Một lượng lớn dữ liệu về phụ nữ mang thai cho thấy không có dị tật, cũng không có độc tính đối với thai nhi/ trẻ sơ sinh. Các nghiên cứu dịch tễ học về sự phát triển thần kinh ở trẻ em tiếp xúc với paracetamol trong tử cung cho thấy kết quả không thuyết phục. Nếu cần thiết về mặt lâm sàng, paracetamol có thể được sử dụng trong thời kỳ mang thai, tuy nhiên nên dùng ở liều thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất và với tần suất thấp nhất. Các bất thường bẩm sinh đã được báo cáo liên quan đến việc sử dụng NSAID ở người; tuy nhiên, tần suất xuất hiện thấp và dường như không tuân theo bất kỳ mô hình rõ ràng nào. Theo những tác động đã biết của NSAID đối với hệ tim mạch của thai nhi (nguy cơ đóng ống động mạch), chống chỉ định sử dụng trong ba tháng cuối. Sự bắt đầu chuyển dạ có thể bị trì hoãn và thời gian chảy máu ở cả mẹ và con tăng lên. Không nên dùng NSAID trong hai quý đầu của thai kỳ hoặc khi chuyển dạ trừ khi lợi ích cho bệnh nhân cao hơn nguy cơ có thể xảy ra cho thai nhi. Do đó, nếu có thể, nên tránh sử dụng sản phẩm này trong sáu tháng đầu của thai kỳ và chống chỉ định trong ba tháng cuối của thai kỳ. Phụ nữ cho con bú Ibuprofen và các chất chuyển hóa có thể bài tiết một lượng rất nhỏ (0,0008% liều dùng cho mẹ) vào sữa mẹ. Không có tác dụng có hại cho trẻ sơ sinh được biết đến. Paracetamol được bài tiết qua sữa mẹ nhưng với một lượng không đáng kể trên lâm sàng. Dữ liệu công bố hiện có không chống chỉ định cho phụ nữ đang cho con bú. Do đó, không cần thiết phải gián đoạn việc cho con bú trong điều trị ngắn hạn với liều khuyến cáo của sản phẩm này. Xem phần Thận trọng và cảnh báo đặc biệt khi dùng thuốc về khả năng sinh sản của phụ nữ. ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC LÊN KHẢ NĂNG LÁI XE VÀ VẬN HÀNH MÁY MÓC Có thể có các tác dụng không mong muốn như chóng mặt, buồn ngủ, mệt mỏi và rối loạn thị giác sau khi dùng NSAID. Nếu bệnh nhân bị ảnh hưởng không nên lái xe hoặc vận hành máy móc.

Mô tả chi tiết

Hapacol prime 500mg/200mg DHG là gì? Thuốc Hapacol Prime là sản phẩm của Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang, có thành phần chính là Paracetamol, Ibuprofen. Viên nén dài màu cam, một mặt có vạch ngang, một mặt có hình thoi, cạnh và thành viên lành lặn. Đây là thuốc được sử dụng để giảm tạm thời các cơn đau nhẹ đến trung bình.

Dữ liệu được ghi nhận vào 2026-08-28T04:04:51.422Z. Dược Hub cung cấp thông tin tham khảo, không bán thuốc trực tuyến và không thay thế tư vấn của bác sĩ hoặc dược sĩ. Giá thuốc và tồn kho không được công bố tại URL này.