Dịch truyền Lipofundin MCT/LCT 10% B.Braun cung cấp năng lượng, chất béo (250ml)
Lipofundin MCT/LCT được sản xuất bởi Công ty TNHH B. Braun, với thành phần chính dầu đậu tương tinh luyện, các triglyceride chuỗi trung bình, acid linoleic, acid α - linoleic, là thuốc dùng để cung cấp năng lượng bởi thành phần lipid sử dụng sẵn có (MCT) hoặc cung cấp các acid béo thiết yếu như một phần của nuôi dưỡng toàn phần qua đường tĩnh mạch.
- Thương hiệu
- B.Braun
- Phân loại
- Thuốc kê đơn
- Số đăng ký
- 400110020323
- Quy cách/đơn vị
- Chai
- Nhà sản xuất
- BRAUN
Công dụng / chỉ định
Chỉ định Thuốc Lipofundin MCT/LCT được chỉ định dùng trong các trường hợp sau: Cung cấp năng lượng bởi thành phần lipid sử dụng sẵn có (MCT). Cung cấp các acid béo thiết yếu như một phần của nuôi dưỡng toàn phần qua đường tĩnh mạch. Dược lực học Lipofundin MCT/LCT được dùng để cung cấp năng lượng và acid béo (“thiết yếu“) không bão hòa như một phần của dinh dưỡng ngoài đường tiêu hóa. Nhằm mục đích này Lipofundin MCT/LCT có chứa triglyceride chuỗi vừa, triglyceride chuỗi dài (dầu đậu tương), phosphatide (lecithin trong trứng) và glycerol. Triglyceride chuỗi vừa được thủy phân, loại bỏ nhanh hơn khỏi tuần hoàn và oxy hóa hoàn toàn hơn triglyceride chuỗi dài. Do đó chúng là cơ chất năng lượng được ưa dùng, đặc biệt là khi có những rối loạn về thoái giáng hoặc việc sử dụng triglyceride chuỗi dài, ví dụ như trong trường hợp thiếu men lipase lipoprotein, thiếu các đồng yếu tố lipase lipoprotein, thiếu carnitine và suy giảm hệ thống vận chuyển phụ thuộc carnitine. Chỉ các triglyceride chuỗi dài mới cung cấp các acid béo không bão hòa, do đó, chúng chủ yếu được dùng trong phòng bệnh và điều trị thiếu hụt acid béo thiết yếu và chỉ dùng làm nguồn năng lượng như một chức năng phụ. Bên cạnh chức năng chất nhũ cho triglyceride, phosphatide là thành phần của màng tế bào và đảm bảo trạng thái lỏng và chức năng sinh học của chúng. Glycerol, được thêm vào với mục đích cung cấp nhũ tương đẳng trương cho máu, là chất trung gian sinh lý trong quá trình chuyển hóa glucose và lipid: Được chuyển hóa để mang lại năng lượng hoặc được sử dụng để tổng hợp glucose, glycogen và triglyceride. Các nghiên cứu dược lý học về độ an toàn chưa tiết lộ bất kỳ tác dụng cụ thể nào khác so với các tác dụng dinh dưỡng nêu trên, giống như khi các cơ chất đặc biệt được dùng bằng đường uống. Dược động học Hấp thu Vì dùng qua tĩnh mạch, sinh khả dụng của các thành phần của Lipofundin MCT/LCT là 100%. Phân bố Liều lượng, tốc độ tiêm truyền, tình trạng chuyển hóa và các yếu tố riêng của từng bệnh nhân (mức đói) là những yếu tố có liên quan nhất để xác định nồng độ triglyceride huyết thanh tối đa. Khi cho dùng theo các hướng dẫn và thực hiện theo nguyên tắc về liều lượng, nồng độ triglyceride thường không được vượt quá 4,6mmol/l. Acid béo chuỗi vừa có ái lực thấp với albumin. Các thí nghiệm ở động vật cho dùng nhũ tương triglyceride chuỗi vừa nguyên chất chỉ ra rằng acid béo chuỗi vừa có thể vượt qua hàng rào máu não nếu quá liều. Không quan sát thấy tác dụng bất lợi nào với nhũ tương cung cấp hỗn hợp triglyceride chuỗi vừa và triglyceride chuỗi dài vì triglyceride chuỗi dài có tác dụng ức chế sự thủy phân triglyceride chuỗi vừa. Do đó, tác dụng độc hại lên não có thể được loại trừ sau khi cho dùng Lipofundin MCT/LCT. Mô nhau thai thường lấy acid béo đa không bão hòa chuỗi dài từ máu mẹ và điều tiết việc chuyển sang tuần hoàn của thai nhi. Việc chuyển qua nhau thai các acid béo là một quá trình rất phức tạp liên quan đến nhiều protein gắn màng và protein liên kết acid béo lơ lửng trong tế bào, mặc dù các cơ chế vẫn chưa chắc chắn. Nhau thai lấy các acid béo không este hóa của máu mẹ và các acid béo được giải phóng do men lipase lipoprotein và lipase nội mô của mẹ. Các acid béo không este hóa này đi vào tế bào thông qua việc khuếch tán thụ động hoặc bằng protein vận chuyển màng. Acid béo không este hóa gắn với protein liên kết acid béo lơ lửng trong tế bào để tương tác với các bào quan dưới tế bào, bao gồm mạng lưới nội bào, ti thể, giọt mỡ và peroxisome. Chuyển hóa Sau khi tiêm truyền, triglyceride được thủy phân thành glycerol và acid béo. Cả hai được đưa vào các đường dẫn sinh lý để sản xuất năng lượng, tổng hợp phân tử hoạt tính sinh học, quá trình tân sinh đường và tái tổng hợp lipid. Thải trừ Chu kỳ bán rã trong huyết tương của Lipofundin MCT/LCT là khoảng 9 phút. Cả triglyceride dầu đậu tương và triglyceride chuỗi vừa được chuyển hóa hoàn toàn thành CO 2 và H 2 O. Chỉ bị mất lượng nhỏ lipid trong quá trình loại bỏ tế bào khỏi da và các màng biểu mô khác. Bài tiết qua thận hầu như không xảy ra. Dược lực học Lipofundin MCT/LCT được dùng để cung cấp năng lượng và acid béo (“thiết yếu“) không bão hòa như một phần của dinh dưỡng ngoài đường tiêu hóa. Nhằm mục đích này Lipofundin MCT/LCT có chứa triglyceride chuỗi vừa, triglyceride chuỗi dài (dầu đậu tương), phosphatide (lecithin trong trứng) và glycerol. Triglyceride chuỗi vừa được thủy phân, loại bỏ nhanh hơn khỏi tuần hoàn và oxy hóa hoàn toàn hơn triglyceride chuỗi dài. Do đó chúng là cơ chất năng lượng được ưa dùng, đặc biệt là khi có những rối loạn về thoái giáng hoặc việc sử dụng triglyceride chuỗi dài, ví dụ như trong trường hợp thiếu men lipase lipoprotein, thiếu các đồng yếu tố lipase lipoprotein, thiếu carnitine và suy giảm hệ thống vận chuyển phụ thuộc carnitine. Chỉ các triglyceride chuỗi dài mới cung cấp các acid béo không bão hòa, do đó, chúng chủ yếu được dùng trong phòng bệnh và điều trị thiếu hụt acid béo thiết yếu và chỉ dùng làm nguồn năng lượng như một chức năng phụ. Bên cạnh chức năng chất nhũ cho triglyceride, phosphatide là thành phần của màng tế bào và đảm bảo trạng thái lỏng và chức năng sinh học của chúng. Glycerol, được thêm vào với mục đích cung cấp nhũ tương đẳng trương cho máu, là chất trung gian sinh lý trong quá trình chuyển hóa glucose và lipid: Được chuyển hóa để mang lại năng lượng hoặc được sử dụng để tổng hợp glucose, glycogen và triglyceride. Các nghiên cứu dược lý học về độ an toàn chưa tiết lộ bất kỳ tác dụng cụ thể nào khác so với các tác dụng dinh dưỡng nêu trên, giống như khi các cơ chất đặc biệt được dùng bằng đường uống. Dược động học Hấp thu Vì dùng qua tĩnh mạch, sinh khả dụng của các thành phần của Lipofundin MCT/LCT là 100%. Phân bố Liều lượng, tốc độ tiêm truyền, tình trạng chuyển hóa và các yếu tố riêng của từng bệnh nhân (mức đói) là những yếu tố có liên quan nhất để xác định nồng độ triglyceride huyết thanh tối đa. Khi cho dùng theo các hướng dẫn và thực hiện theo nguyên tắc về liều lượng, nồng độ triglyceride thường không được vượt quá 4,6mmol/l. Acid béo chuỗi vừa có ái lực thấp với albumin. Các thí nghiệm ở động vật cho dùng nhũ tương triglyceride chuỗi vừa nguyên chất chỉ ra rằng acid béo chuỗi vừa có thể vượt qua hàng rào máu não nếu quá liều. Không quan sát thấy tác dụng bất lợi nào với nhũ tương cung cấp hỗn hợp triglyceride chuỗi vừa và triglyceride chuỗi dài vì triglyceride chuỗi dài có tác dụng ức chế sự thủy phân triglyceride chuỗi vừa. Do đó, tác dụng độc hại lên não có thể được loại trừ sau khi cho dùng Lipofundin MCT/LCT. Mô nhau thai thường lấy acid béo đa không bão hòa chuỗi dài từ máu mẹ và điều tiết việc chuyển sang tuần hoàn của thai nhi. Việc chuyển qua nhau thai các acid béo là một quá trình rất phức tạp liên quan đến nhiều protein gắn màng và protein liên kết acid béo lơ lửng trong tế bào, mặc dù các cơ chế vẫn chưa chắc chắn. Nhau thai lấy các acid béo không este hóa của máu mẹ và các acid béo được giải phóng do men lipase lipoprotein và lipase nội mô của mẹ. Các acid béo không este hóa này đi vào tế bào thông qua việc khuếch tán thụ động hoặc bằng protein vận chuyển màng. Acid béo không este hóa gắn với protein liên kết acid béo lơ lửng trong tế bào để tương tác với các bào quan dưới tế bào, bao gồm mạng lưới nội bào, ti thể, giọt mỡ và peroxisome. Chuyển hóa Sau khi tiêm truyền, triglyceride được thủy phân thành glycerol và acid béo. Cả hai được đưa vào các đường dẫn sinh lý để sản xuất năng lượng, tổng hợp phân tử hoạt tính sinh học, quá trình tân sinh đường và tái tổng hợp lipid. Thải trừ Chu kỳ bán rã trong huyết tương của Lipofundin MCT/LCT là khoảng 9 phút. Cả triglyceride dầu đậu tương và triglyceride chuỗi vừa được chuyển hóa hoàn toàn thành CO 2 và H 2 O. Chỉ bị mất lượng nhỏ lipid trong quá trình loại bỏ tế bào khỏi da và các màng biểu mô khác. Bài tiết qua thận hầu như không xảy ra.
Thành phần
Soya-bean oil 5g, Medium-chain triglycerides 5g
Cách dùng
Cách dùng Thuốc dùng tiêm truyền tĩnh mạch. Lắc nhẹ trước khi sử dụng. Nhũ tương lipid thích hợp để sử dụng ở tĩnh mạch ngoại biên và cũng có thể được cho dùng riêng qua các tĩnh mạch ngoại biên như một phần của nuôi dưỡng toàn phần qua đường tĩnh mạch. Phải đặt đầu nối chữ Y hoặc đầu nối thông càng gần bệnh nhân càng tốt, nếu nhũ tương lipid được dùng đồng thời với các dung dịch acid amine và carbohydrate. Thời gian dùng Lipofundin MCT/LCT thường là 1 – 2 tuần. Nếu nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch bằng nhũ tương lipid được chỉ định thêm, có thể cho dùng Lipofundin MCT/LCT trong thời gian lâu hơn miễn là có theo dõi thích hợp. Liều dùng Chỉ được cho dùng liều tối đa hàng ngày sau khi tăng từng bước với sự theo dõi cẩn thận về khả năng dung nạp thuốc truyền. Tùy vào các yêu cầu năng lượng, các liều hàng ngày sau đây được khuyên dùng: Người lớn Liều bình thường là 0,7 – 1,5g lipid/kg mỗi ngày. Không được vượt quá liều tối đa là 2,0g lipid/kg/ngày, ví dụ như khi có yêu cầu cao về năng lượng hoặc khi tăng sử dụng chất béo (ví dụ như các bệnh nhân ung thư). Đối với điều trị nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch dài hạn ở nhà (> 6 tháng) và ở các bệnh nhân mắc hội chứng ruột ngắn, truyền lipid trong tĩnh mạch không được quá 1,0g/kg/ngày. Đối với bệnh nhân nặng 70kg, liều hàng ngày là 2,0g/kg/ngày tương ứng với liều tối đa hàng ngày là 1400ml Lipofundin MCT/ LCT. Nhóm bệnh nhi Tăng dần lượng lipid đưa vào ở các khoảng tăng 0,5 – 1,0g/kg/ngày có thể có lợi về khả năng theo dõi tình trạng tăng mức triglyceride huyết tương và phòng ngừa tình trạng thừa lipid huyết. Trẻ sơ sinh thiếu tháng, trẻ sơ sinh đủ tháng, trẻ sơ sinh và trẻ tập đi: Khuyến cáo không được vượt quá liều hàng ngày là 3,0g(tối đa 4,0g)/kg/ngày đối với lipid. Ở trẻ sơ sinh thiếu tháng, trẻ sơ sinh đủ tháng, trẻ sơ sinh và trẻ tập đi, liều lipid hàng ngày phải được truyền liên tục trong 24 giờ. Trẻ em và trẻ vị thành niên Khuyến cáo không vượt quá liều lipid hàng ngày là 2,0 – 3,0g/kg/ngày. Tốc độ truyền Phải truyền ở tốc độ truyền thấp nhất có thể. Trong 15 phút đầu tiên, tốc độ truyền chỉ nên bằng 50% tốc độ truyền tối đa cần sử dụng. Phải theo dõi bệnh nhân chặt chẽ xem có xuất hiện phản ứng bất lợi hay không. Tốc độ truyền tối đa Người lớn Lên đến 0,15g/kg/giờ đối với lipid. Đối với một bệnh nhân nặng 70kg con số này tương đương tốc độ truyền tối đa là 105ml Lipofundin MCT/LCT 10% mỗi giờ. Lượng lipid được dùng khi đó là 10,5g mỗi giờ. Trẻ sơ sinh thiếu tháng, trẻ sơ sinh đủ tháng, trẻ sơ sinh và trẻ tập đi Lên đến 0,17g/kg/giờ đối với lipid. Trẻ em và trẻ vị thành niên Lên đến 0,13g/kg/giờ đối với lipid. Lưu ý: Liều dùng trên chỉ mang tính chất tham khảo. Liều dùng cụ thể tùy thuộc vào thể trạng và mức độ diễn tiến của bệnh. Để có liều dùng phù hợp, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên viên y tế. Làm gì khi dùng quá liều? Triệu chứng Tăng lipid máu, nhiễm toan chuyển hóa. Ngoài ra, hội chứng quá tải chất béo có thể xuất hiện. Điều trị Ngưng truyền ngay khi có dấu hiệu quá liều. Các biện pháp trị liệu khác sẽ phụ thuộc vào các triệu chứng cụ thể và mức độ nghiêm trọng của chúng. Sau khi các triệu chứng đã giảm, việc truyền dịch được khuyến cáo, nên tăng dần tốc độ truyền có giám sát ở những khoảng thời gian thường xuyên. Làm gì khi quên 1 liều? Nếu bạn quên một liều thuốc, hãy dùng càng sớm càng tốt. Tuy nhiên, nếu gần với liều kế tiếp, hãy bỏ qua liều đã quên và dùng liều kế tiếp vào thời điểm như kế hoạch. Lưu ý rằng không nên dùng gấp đôi liều đã quy định.
Lưu ý và cảnh báo
Những điều cần lưu ý khi sử dụng Người dùng cần nghiên cứu kỹ hướng dẫn sử dụng và tham khảo các thông tin chi tiết dưới đây trước khi tiến hành truyền dịch. Trường hợp không nên sử dụng Nghiêm cấm sử dụng Lipofundin MCT/LCT cho các đối tượng thuộc những trường hợp sau: Cơ thể dị ứng với protein của trứng, đậu nành, các chế phẩm từ đậu phộng, đậu nành hoặc bất kỳ thành phần tá dược, hoạt chất nào có trong thuốc. Chỉ số lipid trong máu tăng cao ở mức độ nặng. Gặp tình trạng rối loạn đông máu nghiêm trọng. Chức năng gan suy giảm nặng. Mật bị ứ đọng bên trong gan. Chức năng thận suy giảm nặng nhưng không áp dụng các phương pháp thay thế thận. Đang trong giai đoạn nghẽn mạch huyết khối cấp tính. Bị tắc mạch do các hạt mỡ. Tình trạng xuất huyết tạng tiến triển nặng hơn. Bị nhiễm toan chuyển hóa. Các trường hợp không được chỉ định nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch nói chung: Tuần hoàn huyết động không ổn định đe dọa đến tính mạng (như sốc hoặc xẹp tuần hoàn), chuyển hóa mất kiểm soát, nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ ở giai đoạn cấp, rối loạn điện giải và nước chưa được điều trị (như mất nước nhược trương, giảm kali máu), suy tim mất bù, phù phổi cấp. Cảnh báo và thận trọng Giám sát chỉ số triglyceride: Hàm lượng triglyceride trong huyết thanh cần được kiểm tra liên tục suốt thời gian truyền dịch. Tùy thuộc vào khả năng chuyển hóa của từng người, hiện tượng tăng triglyceride máu có thể xuất hiện. Nếu chỉ số triglyceride huyết tương vượt quá 4,6 mmol/l, tốc độ truyền cần được hãm chậm lại. Nếu chỉ số này vượt quá 11,4 mmol/l, phải dừng ngay việc truyền dịch. Đối với trẻ sơ sinh, cân nhắc giảm liều khi triglyceride huyết tương vượt quá 2,8 mmol/l. Với trẻ lớn hơn, xem xét giảm liều khi chỉ số này vượt quá 4,5 mmol/l. Việc theo dõi triglyceride đặc biệt quan trọng ở những người có nguy cơ cao bị tăng lipid máu. Có thể tăng dần liều lượng theo từng ngày. Điều chỉnh thể dịch và điện giải: Trước khi bắt đầu truyền, các rối loạn về nước, điện giải hoặc thăng bằng acid - base của bệnh nhân phải được xử lý dứt điểm. Theo dõi sức khỏe tổng quát: Trong suốt quá trình truyền dịch, đặc biệt là khi truyền dài ngày, y bác sĩ cần kiểm soát chặt chẽ lượng dịch vào ra, nồng độ điện giải huyết thanh, thăng bằng acid - base, hoạt động của hệ tim mạch, công thức máu, khả năng đông máu và chức năng gan. Xử lý phản ứng dị ứng: Dù các phản ứng quá mẫn với thành phần thuốc (như vết protein trong dầu đậu nành hay lecithin trứng) cực kỳ hiếm, nguy cơ này vẫn có thể xảy ra ở người có cơ địa nhạy cảm. Cần dừng truyền ngay lập tức nếu bệnh nhân xuất hiện các biểu hiện dị ứng như sốt, nổi mẩn, khó thở, rét run. Phối hợp dinh dưỡng: Việc chỉ truyền đơn độc nhũ tương béo dễ dẫn đến toan chuyển hóa. Vì vậy, cần truyền kết hợp đầy đủ carbohydrate và acid amin qua đường tĩnh mạch. Với người cần nuôi dưỡng tĩnh mạch hoàn toàn, phải bổ sung thêm nước, điện giải, carbohydrate, acid amin, vitamin và các nguyên tố vi lượng. Nguy cơ tương kỵ: Tránh pha trộn thuốc với các chất không tương thích vì có thể làm phá vỡ cấu trúc nhũ tương hoặc gây kết tủa, dẫn đến nguy cơ tắc mạch rất cao. Ưu tiên nồng độ cao: Các dung dịch đậm đặc hơn như Lipofundin MCT/LCT 20% có tỷ lệ chất nhũ hóa (phospholipid) so với dầu thấp hơn các loại nồng độ thấp. Điều này giúp hạn chế sự gia tăng của triglyceride, phospholipid, acid béo tự do và lipoprotein - X gây hại trong máu. Do đó, các chuyên gia khuyến cáo nên ưu tiên dùng dạng nhũ tương hàm lượng cao như Lipofundin MCT/LCT 20% thay vì các dạng nồng độ thấp hơn. Thận trọng theo bệnh lý và độ tuổi: Cần lưu ý đặc biệt khi dùng cho người cao tuổi có kèm suy thận hoặc suy tim. Thận trọng với người bị rối loạn chuyển hóa lipid (như tiểu đường, viêm tụy, suy thận, suy giáp kèm tăng triglyceride, suy gan, nhiễm khuẩn huyết). Cần giám sát chặt chẽ lượng triglyceride và điều chỉnh liều lượng theo khả năng dung nạp của cơ thể. Nếu sau khi truyền 12 giờ mà triglyceride máu vẫn cao thì đó là dấu hiệu của rối loạn chuyển hóa lipid. Lưu ý đặc biệt ở trẻ sơ sinh: Acid béo tự do (FFA) giải phóng từ triglyceride có thể tranh chấp vị trí gắn albumin với bilirubin. Trẻ sinh non có nguy cơ cao bị tăng bilirubin máu do tỷ lệ FFA/albumin tăng lên. Ở trẻ sơ sinh có nguy cơ tăng bilirubin máu được nuôi dưỡng qua tĩnh mạch, cần giám sát liên tục lượng bilirubin và triglyceride huyết thanh, đồng thời điều chỉnh tốc độ truyền khi cần. Trong lúc truyền, cần che chắn chai dịch tránh ánh sáng từ liệu pháp quang trị liệu để ngăn ngừa sự hình thành các chất triglyceride hydroperoxide độc hại. Ảnh hưởng đến xét nghiệm: Sự hiện diện của lipid trong máu có thể làm sai lệch kết quả của một số xét nghiệm (như đo bão hòa oxy, định lượng bilirubin, lactate dehydrogenase). Do đó, chỉ nên lấy mẫu máu sau khi lipid đã được đào thải hết khỏi tuần hoàn (thường mất từ 4 đến 6 tiếng). Ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc Thuốc không gây ra bất kỳ ảnh hưởng nào đến khả năng điều khiển phương tiện giao thông hay vận hành thiết bị, máy móc. Sử dụng trong thai kỳ Hiện chưa có đủ dữ liệu lâm sàng về việc sử dụng Lipofundin MCT/LCT trên phụ nữ mang thai, và các nghiên cứu độc tính trên động vật đối với hệ sinh sản cũng chưa đầy đủ. Chỉ tiến hành truyền dịch cho thai phụ trong trường hợp thực sự cần thiết để nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch, sau khi bác sĩ đã đánh giá kỹ lưỡng giữa lợi ích điều trị và nguy cơ có thể xảy ra. Sử dụng khi đang cho con bú Mặc dù các thành phần và chất chuyển hóa của thuốc có bài tiết vào sữa mẹ, nhưng ở liều lượng điều trị thông thường, thuốc không gây hại cho trẻ bú mẹ. Tuy nhiên, khuyến cáo chung là các người mẹ đang phải nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch thì không nên thực hiện cho con bú. Tương tác với thuốc khác Heparin: Khi sử dụng ở liều điều trị, Heparin kích thích giải phóng tạm thời enzyme lipoprotein lipase vào tuần hoàn. Hiện tượng này ban đầu làm tăng tốc độ phân giải lipid trong máu, nhưng sau đó sẽ gây suy giảm tạm thời khả năng đào thải triglyceride. Các dẫn xuất của coumarin: Trong dầu đậu nành có chứa một lượng nhỏ vitamin K1 tự nhiên. Tuy vậy, nồng độ vitamin K1 trong Lipofundin MCT/LCT là rất thấp, hầu như không gây tác động tới hiệu quả đông máu của các thuốc nhóm coumarin. Mặc dù vậy, việc theo dõi chỉ số đông máu vẫn là cần thiết đối với những bệnh nhân đang phối hợp hai loại thuốc này.
Mô tả chi tiết
Dịch truyền Lipofundin MCT/LCT 10% B.Braun cung cấp năng lượng, chất béo là gì? Dịch truyền Lipofundin MCT/LCT 10% là một sản phẩm y tế được nghiên cứu và bào chế bởi Công ty TNHH B. Braun . Vai trò chủ đạo của loại thuốc này là mang đến nguồn năng lượng dồi dào cho cơ thể thông qua các thành phần lipid có khả năng hấp thu trực tiếp (MCT). Bên cạnh đó, thuốc còn đóng vai trò bổ sung các acid béo không thể thiếu cho cơ thể, hoạt động như một cấu phần quan trọng trong liệu trình nuôi dưỡng bệnh nhân hoàn toàn bằng đường tĩnh mạch. Thành phần hoạt chất chính có trong dịch truyền: Dầu đậu tương đã qua tinh luyện. Các triglyceride thuộc chuỗi trung bình. Acid linoleic. Acid α-linoleic.
Dữ liệu được ghi nhận vào 2026-08-28T04:04:51.422Z. Dược Hub cung cấp thông tin tham khảo, không bán thuốc trực tuyến và không thay thế tư vấn của bác sĩ hoặc dược sĩ. Giá thuốc và tồn kho không được công bố tại URL này.