← Danh mục thuốc

Thông tin sản phẩm tham khảo

Lotafran 20mg (Hộp 3 vỉ x 10 viên)

Lotafran 20mg là gì? Thuốc Lotafran 20mg của Công ty S.C. Antibiotice S.A. - Romani có thành phần chính Lisinopril, dùng điều trị tăng huyết áp, điều trị suy tim, khi nhồi máu cơ tim cấp có huyết động ổn định, điều trị biến chứng trên thận cho bệnh nhân đái tháo đường.

Thương hiệu
S.C. Antibiotice S.A.
Phân loại
Thuốc kê đơn
Quy cách/đơn vị
Hộp
Nhà sản xuất
S.C. Antibiotice S.A.

Công dụng / chỉ định

Công dụng của Lotafran 20mg Chỉ định Tăng huyết áp Điều trị tăng huyết áp. Suy tim Điều trị suy tim có triệu chứng. Nhồi máu cơ tim cấp, Điều trị ngân hạn (6 tuần) ở bệnh nhân có huyết động học ổn định trong vòng 24 giờ đầu ở bệnh nhồi máu cơ tim cấp Biến chứng trên thận của bệnh đái tháo đường Ở bệnh nhân đái tháo đường phụ thuộc insulin có huyết áp bình thường và bệnh nhân đái tháo đường không phụ thuộc insulin có tăng huyết áp vừa mới chớm mắc bệnh lý thận được đặc trưng bởi vi albumin niệu, lisinopril làm giảm tốc độ tiết albumin niệu (xem mục Độc tính được lực học). Đặc tính dược lực học Nhóm dược lý. Các thuốc ức chế enzym chuyển angiotensin. MEATC: C09AA03. Cơ chế tác dụng Lisinopril là chất ức chế peptidyl dipeptidase. Lisinopril ức chế enzym chuyển angiotensin (ACE) là enzym xúc tác quá trình chuyển angiotensin I thành peptid co mạch là angiotensin II Angiotensin II cũng kích thích sự tiết aldosteron từ vỏ thượng thận. Sự ức chế ACE làm giảm nồng độ angiotensin II, dẫn đến giảm tính cơ mạch và giảm tiết aldosteron. Sự giảm tiết aldosteron có thể làm tăng nồng độ kali huyết thanh. Tác dụng được lý Mặc dù cơ chế gây hạ huyết áp của lisinopril chủ yếu là ức chế hệ renin-angiotensin- aldosteron, lisinopril vẫn có tác dụng hạ huyết áp ngay cá ở những bệnh nhân bị tăng huyết áp có hoạt tính renin thấp. ACE tương tự như kininase II, là enzym làm thoái biến bradykinin. Sự tăng nồng độ bradykinin, một peptid có hoạt tính gây giãn mạch, có vai trò như thế nào trong hiệu quả điều trị của lisinopril vẫn còn là một vấn đề cần được làm sáng tỏ. Hiệu quả và đỗ an toàn lâm sàng Tác dụng của lisinopril trên tỷ lệ tử vong và tỷ lệ mắc bệnh trong suy tim đã được nghiên cứu bằng việc so sánh hiệu quả và độ an toàn giữa liều cao (32,5 mg hoặc 35 mg, ngày 1 lần) với liều thấp (2,5 mg hoặc 5 mg, ngày 1 lần). Trong một nghiên cứu trên 3164 bệnh nhân, với thời gian theo dõi trung bình là 46 tháng đối với những bệnh nhân còn sống, dùng lisinopril liều cao đã làm giảm 12% nguy cơ của tiêu chí kết hợp gồm tử vong do tất cả các nguyên nhân và nhập viện do tất cả các nguyên nhân (P 0,002) và giảm 8% nguy cơ tử vong do tất cả các nguyên nhân và nhập viện do bệnh tim mạch (p = 0,036) so với khi dùng liều thấp. Đã ghi nhận giảm nguy cơ tử vong do tất cả các nguyên nhân (8%, p = 0,128) và giảm nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch (10%;p = 0,073). Trong một phân tích hậu kiểm, số lần nhập viện do suy tim giảm 24%(p=0,002) ở những bệnh nhân dùng lisinopril liều cao so với khi dùng liều thấp. Các hiệu quả về mặt triệu chứng là tương tự nhau ở cả hai nhóm bệnh nhân dùng lisinopril liều cao và liều thấp. Các kết quả nghiên cứu cho thấy tổng quan biển cố bất lợi trên những bệnh nhân dùng lisinopril liều cao hoặc liều thấp là tương tự nhau cả về bản chất cũng như số lượng. Các biến cố có thể dự đoán trước từ tác dụng ức chế men chuyển, như là hạ huyết áp hoặc thay đổi chức năng thận có thể kiểm soát được và hiếm khi phải ngừng dùng thuốc. Triệu chứng họ ít xảy ra hơn ở những bệnh nhân dùng lisinopril liều cao so với dùng liều thấp Trong thử nghiệm GISSI-3 dùng thiết kế giai thừa 2x2 để so sánh tác dụng của lisinopril và glyceryl trinitrat dùng đơn lẻ hoặc kết hợp trong 6 tuần so với nhóm đối chứng trên 19394 bệnh nhân dùng thuốc trong vòng 24 giờ sau con nhồi máu cơ tim cấp, lisinopril làm giảm nguy cơ tử vong có ý nghĩa thống kê là 11% so với nhóm đối chung (2p-0,03). Glyceryl trinitrat làm giảm nguy cơ không đáng kể nhưng sự kết hợp của lisinopril và glyceryl trinitrat làm giảm đáng kể nguy cơ tử vong là 17% so với nhóm đối chứng (2p = 0,02) Trong các phân nhóm bệnh nhân cao tuổi (70 tuổi) và phụ nữ, đã được xác định trước là nhóm bệnh nhân có nguy cơ tử vong cao, đã ghi nhân có hiệu quả đáng kể của tiêu chi kết hợp gồm tỷ lệ tử vong và chức năng tìm Tiêu chỉ đánh giá kết hợp cho tất cả các bệnh nhân, cũng như cho các nhóm nguy cơ cao tại thời điểm 6 tháng, cũng cho thấy hiệu quả đáng kể trên những bệnh nhân dùng lisinopril hoặc lisinoprilkết hợp với glyceryl innitrat trong 6 tuần, cho thấy lisinopril có tác dụng dự phòng. Cũng như điều trị với những thuốc giãn mạch khác, việc điều trị lisinopril có liên quan đến tăng tỷ lệ hạ huyết áp và rối loạn chức năng thần nhưng không làm tăng tỷ lệ tử vong. Trong một thử nghiệm mù đôi, ngẫu nhiên, đa trung tầm so sánh lisinopril với một thuốc chọn kênh calci trên 335 bệnh nhân tăng huyết áp kèm đái tháo đường týp 2 mới khởi phát bệnh thận, đặc trưng bởi chứng vì albumin niệu, dùng liều lisinopril từ 10 đến 20 mg, một lần mỗi ngày trong 12 tháng, đã làm giảm 13/10 mmHg huyết áp. tâm thu huyết áp tâm trương và giảm 40% tốc độ tiết albumin niệu. Khi so sánh với thuốc chọn kênh calci, cũng làm giảm huyết áp tương tự, những bệnh nhân dùng lisinopril cho thấy tốc độ tiết albumin niệu giảm nhiều hơn đáng kể, điều này cho thấy rằng ngoài tác dụng hạ huyết áp, hoạt tính ức chế men chuyển của lisinopril đã làm giảm vi albumin hiệu qua cơ chế tác động trực tiếp trên các mô thận. Điều trị bằng lisinopril không ảnh hưởng đến việc kiểm soát đường huyết, thể hiện thông qua việc thuốc không ảnh hưởng đáng kể đến nồng độ hemoglobin glycated (chi so HbA Các thuốc sắc động trên hệ renin-angiotensin (245) Hai thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng quy mô lớn (ONTARGET (ON going Telmisartan Alone and in combination with Ramipril Global Endpoint Trial) và VA NEPHRON-D (The Veterans Affairs Nephropathy in Diabetes)) đã đánh giá việc sử dụng đồng thời một thuốc ức chế men chuyển với một thuốc chẹn thụ thể angiotensin ONTARGET là một nghiên cứu được thực hiện trên những bệnh nhân có tiền sử mắc bệnh tim mạch hoặc bệnh mạch máu não, hoặc bệnh đái tháo đường týp 2 kèm theo bằng chứng tổn thương cơ quan đích. VÀ NEPHRON-D là một nghiên cứu trên những bệnh nhân đái tháo đường týp 2 và bệnh thận do đái tháo đường. Hai nghiên cứu này cho thấy việc sử dụng đồng thời thuốc ức chế men chuyển và thuốc chẹn thụ thể angiotensin II không cải thiện đáng kể các hậu quả trên thận và hoặc tim mạch và tỷ lệ tử vong, đồng thời làm tăng nguy cơ tăng kali huyết, tổn thương thận cấp tính và hoặc hạ huyết áp so với khi dùng đơn độc. Do các đặc tính được lực học tương tự nhau, những kết quả này cũng có thể áp dụng đối với các thuốc ức chế men chuyển và thuốc chọn thụ thể angiotensin II khác Do đó, không nên sử dụng đồng thời các thuốc ức chế men chuyển và các thuốc chọn thụ thể angiotensin II trên bệnh nhân bị bệnh thận do đái thảo đường. ALTITUDE (Aliskiren Trial in Type 2 Diabetes Using Cardiovascular and Renal Disease Endpoints) là một nghiên cứu được thiết kế để đánh giá lợi ích của việc bổ sung thêm aliskiren vào phác đồ điều trị chuẩn với một thuốc ức chế men chuyển hoặc một thuốc chẹn thụ thể angiotensin II trên bệnh nhân đái tháo đường týp 2 và bệnh thận mạn tính, bệnh tim mạch, hoặc cả hai. Nghiên cứu này đã kết thúc sớm do Làm tăng nguy cơ gặp biến cố bất lợi. Tử vong và đột quỵ do nguyên nhân tim mạch thường gặp hơn ở nhóm dùng aliskiren so với nhóm giá được, đồng thời các phản ứng bất lợi và các phản ứng bất lợi nghiêm trọng đáng chú ý (tăng kali huyết, hạ huyết áp và rối loạn chức năng thận) cũng được báo cáo là thường gặp hơn ở nhóm dùng aliskiren so với nhóm giữ được. Trẻ em Trong một nghiên cứu làm sáng trên 115 bệnh nhân trẻ em bị tăng huyết áp từ -16 tuổi, những bệnh nhân có cân nặng dưới 50 kg được dùng lisinopril 0,625 mg, 2,5 mg hoặc 20 mg một lần mỗi ngày và những bệnh nhân có cân nặng từ 50 kg trở lên được dùng lisinopril 1,25 mg, 5 mg hoặc 40 mg lisinopril một lần mỗi ngày. Vào cuối tuần 2, lisinopril dùng một lần mỗi ngày đã làm giảm huyết áp đáy phụ thuộc liều dùng. trong đó, hiệu quả hạ huyết áp được ghi nhận ổn định ở các mức liều lớn hơn 1,25 mg. Ảnh hưởng này được xác nhận trong giai đoạn ngừng thuốc, khi đó huyết áp tâm trương đã tăng khoảng 9 mmHg ở nhóm bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên dùng nhóm giả được so với nhóm bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên để duy trì liều trung bình và cao của lisinopril. Tác dụng hạ huyết áp phụ thuộc liều dùng của lisinopril là đồng nhất giữa các nhóm bệnh nhân có đặc điểm nhân khẩu học khác nhau về tuổi, giai đoạn Tanner, giỏi tỉnh và chủng tộc. Đặc tính được động học Lisinopril là một thuốc ức chế men chuyển dùng đường uống không chứa nhóm sulphydryl. Hấp thụ Sau khi uống, nồng độ đỉnh trong huyết thanh của lisinopril đạt được trong khoảng 7 giờ, mặc dù thời gian cần để thuốc đạt được nồng độ đỉnh trong huyết thanh có xu hưởng kéo dài hơn một chút trên các bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp. Dựa vào lượng thuốc qua đường tiểu, mức độ hấp thu trung bình của lisinopril là khoảng 25% với mức độ dao động theo từng bệnh nhân là 6-60% trong khoảng liễu nghiên cứu (5-80 ng). Sinh khả dụng tuyệt đối giảm khoảng 16% trên bệnh nhân suy tim. Thức ăn không ảnh hưởng đến sự hấp thu của lisinopril. Phân bố Lisinopril hầu như không liên kết với các protein huyết thanh ngoài enzym chuyển angiotensin (ACE) trong máu. Các nghiên cứu trên chuột cho thầy lisinopril đi qua hàng rào máu não kém. Thải trừ Lisinopril không trải qua quá trình chuyển hóa và được bài tiết hoàn toàn dưới dạng không đổi qua nước tiểu. Khi dùng liều lặp lại, lisinopril có thời gian bán thải hiệu dùng do tích lũy thuốc là 12,6 giờ. Độ thanh thải của lisinopril ở người khỏe mạnh là khoảng 50 ml phút. Nồng độ thuốc trong huyết thanh giảm dần cho thấy thuốc có giai đoạn thái trừ cuối kéo dài, mà không góp phần gây tích lũy thuốc. Giai đoạn thái trừ cuối này có thể biểu hiện sự liên kết bão hòa với ACE và không tỷ lệ với liều dùng Bệnh nhân suy gan Suy giảm chức năng gan trên bệnh nhân xơ gan dẫn đến giảm hấp thu lisinopril (khoảng 30% được xác định dựa trên lượng thuốc qua đường tiểu), nhưng gầy tăng mức độ tiếp xúc với thuốc (khoảng 50%) so với người khỏe mạnh do độ thanh thải giảm. Bệnh nhân suy thận Suy giảm chức năng thận làm giảm thải trừ lisinopril do lisinopril được thải trừ qua thận, tuy nhiên sự giảm này chỉ có ý nghĩa lâm sàng khi mức độ lọc cầu thận dưới 30 mL/phút. Trên bệnh nhân suy thận nhẹ đến trung bình (độ thanh thải creatinin 30-80 mL/phút), AUC trung bình chỉ tăng khoảng 13%, trong khi AUC trung bình tăng 4,5 lần ở bệnh nhân suy thận nặng (độ thanh thải creatinin khoảng 5-30 mL/phút) Lisinopril có thể được loại bỏ bằng thẩm phân. Trong 4 giờ thẩm phân máu, nồng độ lisinopril trong huyết tương giảm trung bình khoảng 60%, với độ thanh thải thẩm phân khoảng 40 đến 55 mL/phút. Bệnh nhân suy tim Bệnh nhân suy tim có mức độ tiếp xúc với lisinopril cao hơn so với người khỏe mạnh (AUC trung bình tăng 125%), tuy nhiên dựa vào lượng lisinopril qua đường tiểu, thì sự hấp thu giảm khoảng 16% so với người khỏe mạnh. Bệnh nhân trẻ em Dữ liệu dược động học của lisinopril đã được nghiên cứu trên 29 bệnh nhân trẻ em bị tăng huyết áp từ 6-16 tuổi, với mức lọc cầu thận (GFR) trên 30 ml/phút/1,73m. Sau khi dùng các liều 0,1 đến 0,2 mg/kg, nồng độ đỉnh trong huyết tương ở trạng thái ổn định của lisinopril đạt được trong vòng 6 giờ, và mức độ hấp thu dựa trên lượng thuốc thải trừ qua đường tiểu là khoảng 28%. Các giá trị này là tương tự với các giá trị thư được trước đó ở người lớn. Giá trị AUC và C... ở trẻ em trong nghiên cứu này phù hợp với giá trị đã được quan sát ở người lớn. Bệnh nhân cao tuổi Bệnh nhân cao tuổi có nồng độ thuốc trong máu và giá trị AUC cao hơn (tăng khoảng 60%) so với bệnh nhân trẻ tuổi.

Thành phần

Thành phần của Lotafran 20mg Lisinopril dihydrat 20mg

Cách dùng

Cách dùng của Lotafran 20mg Liều dùng, cách dùng Thuốc dùng đường uống Nên uống thuốc lisinopril một lần duy nhất mỗi ngày. Cũng như các thuốc khác dùng một lần duy nhất trong ngày, lisinopril nên được uống ở cùng thời điểm trong ngày. Thức ăn không ảnh hưởng đến sự hấp thu của viên nén lisinopril. Liều dùng tùy thuộc theo tình trạng và đáp ứng huyết áp của từng cá nhân (xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc). - Tăng huyết áp Thuốc lisinopril có thể dùng riêng lẻ hoặc kết hợp với các nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp khác. Liều khởi đầu Ở bệnh nhân tăng huyết áp, liều khởi đầu được khuyến cáo là 10 mg. Bệnh nhân có hệ renin-angiotensin-aldosteron hoạt hóa mạnh (đặc biệt ở bệnh nhân tăng huyết áp do bệnh lý mạch máu thận, thiếu nước và hoặc thiếu muối, mất bù tim hoặc tăng huyết áp trầm trọng) có thể bị hạ huyết áp quá mức sau khi dùng liều khởi đầu. Nếu dùng liều khởi đầu 2,5-5 mg cho những bệnh nhân này và việc bắt đầu điều trị cần có sự theo dõi của bác sĩ. Cần phải dùng liều khởi đầu thấp hơn trên những bệnh nhân suy thận (xem Bảng 1 dưới đây). Liều duy trì Liều duy trì thông thường có hiệu quả là 20 mg, uống một lần duy nhất mỗi ngày. Nói chung, nếu không đạt được hiệu quả điều trị mong muốn sau 2-4 tuần với liều điều trị nào đó thì có thể tăng liều. Liều tối đa sử dụng trong các thử nghiệm lâm sàng dài hạn có đối chứng là 80 mg/ ngày. Bệnh nhân đang dùng thuốc lợi tiểu Hạ huyết áp có triệu chứng có thể xảy ra sau khi bắt đầu điều trị với lisinopril. Điều này dễ xảy ra hơn ở những bệnh nhân đang được điều trị đồng thời với thuốc lợi tiểu. Do đó, phải thận trọng vì những bệnh nhân này có thể đang thiếu nước và hoặc muối. Nếu được, nên ngừng dùng thuốc lợi tiểu 2-3 ngày trước khi bắt đầu điều trị với lisinopril. Ở những bệnh nhân tăng huyết áp không thể ngừng dùng thuốc lợi tiểu, nên dùng lisinopril với liều khởi đầu 5 mg. Nên theo dõi chức năng thận và lượng kali huyết thanh. Liều lisnopril tiếp theo nên được điều chỉnh tùy theo đáp ứng của huyết áp. Nếu cần thiết, có thể tiếp tục dùng thuốc lợi tiểu (xem mục Cảnh bảo và thận trọng khi dùng thuốc và mục Tương tác, tương kỵ của thuốc). Điều chỉnh liều dùng ở bệnh nhân suy thận Liều dùng ở bệnh nhân suy thận phải được dựa trên độ thanh thải creatinin như mô tả ở Bảng 1 duới đây. Bảng 1: Liều điều chỉnh ở bệnh nhân suy thận Độ thanh thải creatinin (mL/phút) + Ít hơn 10 mL/phút (kể cả bệnh nhân thẩm phân): Liều khởi đầu 2,5 mg/ ngày * + 10-30 mL/phút: Liều khởi đầu 2,5-5 mg/ngày + 31-80 mL/ phút: Liều khởi đầu 5-10 mg/ngày *Liều dùng và hoặc số lần dùng thuốc cần được điều chỉnh theo đáp ứng của huyết áp. Liều dùng có thể được điều chỉnh tăng dần cho đến khi kiểm soát được huyết áp hoặc tới liều tối đa là 40 mg/ ngày. Sử dụng trên trẻ em bị tăng huyết áp từ 6-16 tuổi Liều khởi đầu được khuyến cáo là 2,5 mg một lần mỗi ngày ở bệnh nhân có cân nặng từ 20 kg đến< 50 kg, và 5 mg một lần mỗi ngày ở bệnh nhân ≥ 50 kg. Liều dùng nên được điều chỉnh tùy theo cá thể đến tối đa là 20 mg/ ngày ở bệnh nhân có cân nặng từ 20 kg đến < 50 kg, và không quá 40 mg ngày ở bệnh nhân ≥ 50 kg. Liều dùng trên 0,61 mg/kg (hoặc vượt quá 40 mg/ngày) chưa được nghiên cứu ở trẻ em (xem mục Đặc tính được lực học). Ở trẻ em bị suy giảm chức năng thận, nên xem xét liều khởi đầu thấp hơn hoặc tăng từng mức liều. - Suy tim Ở những bệnh nhân suy tim có triệu chứng, lisinopril nên được dùng như một trị liệu hỗ trợ cho thuốc lợi tiểu và khi thích hợp, với digitalis hoặc thuốc chẹn beta. Lisinopril có thể được sử dụng với liều khởi đầu 2.5 mg một lần mỗi ngày và nên uống thuốc khi có sự theo dõi của bác sĩ để xác định hiệu quả lần đầu của thuốc lên huyết áp. Nên tăng liều lisinopril: + Từng mức không quá 10 ng + Thời gian điều chỉnh liều không ít hơn 2 tuần + Liều tối đa bệnh nhân có thể dung nạp lên đến 35 mg, 1 lần/ngày. Việc điều chỉnh liều dùng phải được dựa trên đáp ứng lâm sàng của từng bệnh nhân. Ở bệnh nhân có nguy cơ cao bị hạ huyết áp có triệu chứng, ví dụ bệnh nhân bị thiếu muối có hoặc không có giảm natri huyết, bệnh nhân giảm thể tích tuần hoàn hoặc bệnh nhân đã được điều trị tích cực bằng thuốc lợi tiểu, các rối loạn này phải được điều chỉnh, nếu được, trước khi điều trị với lisinopril. Nên theo dõi chức năng thận và kali huyết thanh (xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc). - Nhồi máu cơ tim cấp Nếu cần, bệnh nhân nên được điều trị bằng các thuốc điều trị chuẩn như thuốc tan huyết khối, aspirin và thuốc chọn beta. Có thể dùng glyceryl trinitrat đường tĩnh mạch hoặc đường qua da cùng lúc với lisinopril. Liều khởi đầu (3 ngày đầu tiên sau cơn nhồi máu cơ tim) Điều trị bằng lisinopril có thể khởi đầu trong vòng 24 giờ từ khi khởi phát các triệu chứng. Việc điều trị không nên bắt đầu nếu huyết áp tâm thu thấp hơn 100 mmHg. Liều khởi đầu của lisinopril là 5 mg qua đường uống, tiếp theo là 5 mg sau 24 giờ, 10 mg sau 48 giờ và 10 mg một lần ngày cho các ngày sau đó. Bệnh nhân có huyết áp tâm thu thấp (≤ 120 mmHg) khi khởi đầu điều trị hoặc trong vòng 3 ngày đầu tiên sau cơn nhồi máu cơ tim nên dùng liều thấp hơn 2,5 mg đường uống (xem mục Cảnh bảo và thận trọng khi dùng thuốc). Ở bệnh nhân suy thận (độ thanh thải creatinin < 80 mL/phút), liều khởi đầu lisinopril nên được điều chỉnh tùy theo độ thanh thải creatinin của bệnh nhân (xem Bảng 1). Liều duy trì Liều duy trì là 10 mg, 1 lần/ngày. Nếu hạ huyết áp xảy ra (huyết áp tâm thu ≤ 100 mmHg), liều duy trì hàng ngày 5 mg nên được giảm tạm thời xuống còn 2,5 mg nếu cần thiết. Nếu hạ huyết áp kéo dài xảy ra (huyết áp tâm thu thấp hơn 90 mmHg kéo dài lâu hơn 1 giờ), nên ngừng dùng lisinopril. Việc điều trị nên được tiếp tục trong 6 tuần và sau đó bệnh nhân nên được đánh giá lại. Bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng suy tim nên tiếp tục dùng lisinopril. Biến chứng trên thận của bệnh đái tháo đường Ở những bệnh nhân đái tháo đường phụ thuộc insulin có huyết áp bình thường, liều hàng ngày là 10 mg lisinopril, 1 lần ngày, có thể tăng lên 20 mg, 1 lần/ngày, nếu cần thiết, để đạt được huyết áp tâm trương ở tư thế ngồi dưới 75 mmlig. Ở bệnh nhân đái tháo đường không phụ thuộc insulin bị tăng huyết áp, dùng phác đồ liều dùng như trên để đạt đến huyết áp tâm trương ở tư thế ngồi dưới 90 mmHg. Ở bệnh nhân suy thận (độ thanh thải creatinin < 80 mL/phút), liều khởi đầu lisinopril nên được điều chỉnh theo độ thanh thải creatinin của bệnh nhân (xem Bảng 1). Sử dụng thuốc trên bệnh nhân cao tuổi Trong các nghiên cứu lâm sàng, không có sự thay đổi nha liên quan đến tuổi của bệnh nhân về hiệu quả và tinh an toàn của thuốc. Tuy nhiên, khi tuổi cao kèm theo suy giảm chức năng thận, nên tuân theo sự hướng dẫn trong Bảng 1 để xác định liều khởi đầu của lisinopril. Sau đó, liều dùng nên được điều chỉnh tùy theo đáp ứng của huyết áp. Sử dụng trên bệnh nhân ghép thận Chưa có kinh nghiệm về việc dùng lisinopril trên những bệnh nhân mới ghép thận. Do đó, không khuyến cáo dùng lisinopril viền các bệnh nhân này. Nếu bệnh nhân quên uống một liều thuốc, thì nên uống liều thuốc đã quên ngay khi nhỏ ra. Nếu gần tới thời gian uống liều tiếp theo, hãy bỏ qua liều quên dùng và uống liều tiếp theo như bình thường. Không uống gấp đôi liều để bù lại liều đã quên. Không có yêu cầu gì đặc biệt về việc xử lý thuốc sau khi sử dụng. Quá liều và cách xử trí - Triệu chứng: Dữ liệu về quá liều thuốc trên người còn hạn chế. Các triệu chứng liên quan đến quá liều thuốc ức chế men chuyển có thể bao gồm hạ huyết áp, sốc tuần hoàn, rối loạn điện giải, suy thận, tăng thông khí phổi, nhịp tim nhanh, đánh trống ngực, nhịp tim chậm, chóng mặt, lo lắng và ho. - Xử trí: Điều trị được khuyến cáo trong trường hợp quá liều là truyền tĩnh mạch dung dịch nước muối sinh lý. Nếu xảy ra hạ huyết áp, phải đặt bệnh nhân ở tư thế chống sốc. Cũng có thể xem xét điều trị với truyền tĩnh mạch angiotensin II và hoặc tiêm tĩnh mạch catecholamin nếu có sẵn. Nếu mới uống quá liều, cần thực hiện các biện pháp nhằm loại bỏ thuốc khỏi đường tiêu hóa (như: gây nôn, rửa dạ dày, uống chất hấp phụ và natri sulphat). Có thể loại bỏ lisinopril ra khỏi hệ tuần hoàn chung bằng thẩm tách máu (xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc). Đặt máy tạo nhịp được chỉ định trong trường hợp nhịp tim chậm kháng trị. Cần theo dõi thường xuyên các dấu hiệu sinh tồn, nồng độ chất điện giải và creatinin trong huyết thanh.

Lưu ý và cảnh báo

Những điều cần lưu ý khi sử dụng Chống chỉ định - Quá mẫn với lisinopril, với bất kỳ thành phần tá dược nào của thuốc hoặc với bất kỳ thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ACE) khác. - Tiền sử phù mạch do dùng các thuốc ức chế men chuyển trước đó. - Chống chỉ định sử dụng đồng thời lisinopril với liệu pháp sacubital valsartan. Không được bắt đầu dùng lisinopril sớm hơn 36 giờ sau liều dùng cuối cùng của sacubitril valsartan (xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc và mục Tương tác, tương kỵ của thuốc). - Phù mạch di truyền hoặc vô căn. - Phụ nữ có thai ở 3 tháng giữa và 3 tháng cuối của thai kỳ (xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc và mục Sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai và cho con bú). - Chống chỉ định sử dụng lisinopril đồng thời với các thuốc chứa aliskiren trên các bệnh nhân đái tháo đường hoặc suy thận (mức lọc cầu thận (GFR)< 60 ml phải 1,73 m2) (xem mục Tương tác, tương kỵ của thuốc và mục Đặc tính dược lực học). Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc - Hạ huyết áp triệu chứng Hạ huyết áp triệu chứng hiếm gặp ở những bệnh nhân tăng huyết áp không có biến chứng. Ở những bệnh nhân cao huyết áp đang dùng lisinopril, hạ huyết áp có khả năng dễ xảy ra nếu bệnh nhân đã bị giảm thể tích tuần hoàn, ví dụ do thuốc lợi tiểu, chế độ ăn hạn chế muối, thẩm phân, tiêu chảy hoặc nôn, hoặc tăng huyết áp nặng phụ thuộc vào renin (xem mục Tương tác, tương kỵ của thuốc và mục Tác dụng không mong muốn). Ở bệnh nhân suy tim, có hoặc không có suy thận kèm theo, hạ huyết áp có triệu chứng đã được ghi nhận. Điều này có khả năng dễ xảy ra hơn ở những bệnh nhân suy tim nặng, thể hiện qua việc sử dụng liều cao thuốc lợi tiểu quai, giảm natri huyết hoặc suy giảm chức năng thận. Ở những bệnh nhân nguy cơ cao bị hạ huyết áp có triệu chứng, cần giám sát chặt chẽ việc khởi đầu điều trị và phải điều chỉnh liều dùng. Những biện pháp tương tự cũng được áp dụng ở bệnh nhân có bệnh tim thiếu máu cục bộ hoặc bệnh mạch máu não, mà ở những bệnh nhân này, hạ huyết áp quá mức có thể dẫn đến nhồi máu cơ tim hoặc tai biến mạch máu não. Nếu hạ huyết áp xảy ra, phải để bệnh nhân ở tư thế nằm ngửa, và nếu cần thiết, phải truyền tĩnh mạch nước muối sinh lý. Phản ứng hạ huyết áp thoáng qua không phải là chống chỉ định đối với các liều tiếp theo, các liều này có thể được dùng mà không có trở ngại khi huyết áp đã được nâng lên sau khi bù dịch. Ở một số bệnh nhân suy tim có huyết áp bình thường hoặc thấp, huyết áp toàn thân có thể hạ thấp hơn nữa khi dùng lisinopril. Tác dụng này đã được biết trước và thường không phải là lý do để ngừng dùng thuốc. Nếu hạ huyết áp có triệu chứng, có thể cần phải giảm liều hoặc ngừng dùng lisinopril. - Hạ huyết áp trong nhồi máu cơ tim cấp Không được khởi đầu điều trị bằng lisinopril ở những bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp vì có nguy cơ rối loạn huyết động học nghiêm trọng sau khi điều trị với thuốc giãn mạch. Trường hợp này gặp ở những bệnh nhân có huyết áp tâm thu ≤ 100 mmHg, hoặc ở những người bị sốc tim. Trong 3 ngày đầu tiên sau cơn nhồi máu cơ tim, cần giảm liều nếu huyết áp tâm thu ≤ 120 mmHg. Liều duy trì cần giảm xuống 5 mg hoặc tạm thời giảm xuống 2,5 mg nếu huyết áp tâm thu ≤ 100 mmH. Nếu hạ huyết áp kéo dài (huyết áp tâm thu dưới 90 mmHg kéo dài hơn 1 giờ) phải ngừng dùng lisinopril. - Bệnh nhân mắc bệnh cơ tim phì đại/Hẹp động mạch chủ và van 2 lá Cũng như các thuốc ức chế men chuyển khác, cần thận trọng khi dùng lisinopril cho bệnh nhân bị hẹp van 2 lá và tắc nghẽn dòng máu đi ra khỏi tâm thất trái như hẹp động mạch chủ hoặc bệnh cơ tim phì đại. - Suy giảm chức năng thận Ở bệnh nhân suy thận (độ thanh thải creatinin < 80 ml/phút), liều khởi đầu của lisinopril phải được điều chỉnh theo độ thanh thải creatinin của bệnh nhân (xem Bảng 1 trong mục Liều dùng, cách dùng), và sau đó điều chỉnh theo đáp ứng của bệnh nhân với trị liệu. Theo dõi định kỳ nồng độ kali và creatinin là một phần của việc thăm khám y khoa thông thường cho những bệnh nhân này. Ở những bệnh nhân suy tim, hạ huyết áp sau khi dùng liều khởi đầu với các thuốc ức chế men chuyển có thể làm tình trạng suy giảm chức năng thận nặng thêm. Đã có báo cáo về những trường hợp suy thận cấp nhưng thường được hồi phục trong các trường hợp này. Ở một số bệnh nhân hẹp động mạch thận hai bên hoặc hẹp động mạch thận khi chỉ có một thận chức năng, đã được điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển, đã thấy có trường hợp tăng urê máu và creatinin huyết thanh và thường sẽ hồi phục sau khi ngừng điều trị. Khả năng này đặc biệt có thể xảy ra ở những bệnh nhân suy thận. Nếu bệnh nhân đồng thời bị tăng huyết áp do bệnh động mạch thận, có nguy cơ cao bị hạ huyết áp nghiêm trọng và suy thận. Ở những bệnh nhân này, phải bắt đầu điều trị dưới sự giám sát y tế chặt chẽ với liều lượng thấp và chỉnh liều thật cẩn thận. Việc điều trị bằng thuốc lợi tiểu có thể là một nguy cơ làm tăng tình trạng trên, phải ngưng dùng thuốc lợi tiểu và theo dõi chức năng thận trong những tuần đầu điều trị bằng lisinopril. Ở một số bệnh nhân tăng huyết áp không có tiền sử bệnh động mạch thận, đã thấy urê máu và creatinin huyết thanh tăng lên, thường là nhẹ và thoáng qua, đặc biệt khi dùng lisinopril kèm với một thuốc lợi tiểu. Hiện tượng này thường xảy ra ở bệnh nhân bị suy thận từ trước. Trong các trường hợp này có thể cần giảm liều và/hoặc ngưng dùng thuốc lợi tiểu và/hoặc viên nén lisinopril. Trong nhồi máu cơ tim cấp, không nên bắt đầu dùng lisinopril cho bệnh nhân có bằng chứng bị rối loạn chức năng thận, được xác định bởi nồng độ creatinin huyết thanh > 177 micromol/L và/hoặc protein niệu > 500mg/24 giờ). Nếu hiện tượng rối loạn chức năng thận tăng lên trong quá trình điều trị với viên nén lisinopril (nồng độ creatinin máu > 265 mmol/L hoặc tăng gấp 2 so với nồng độ khi bắt đầu điều trị), cần xem xét ngừng điều trị bằng viên nén lisinopril. - Quá mẫn/phù mạch Hiếm khi xảy ra phù nề ở mặt, các chỉ, môi, lưỡi, thanh môn và/hoặc thanh quản ở những bệnh nhân điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển, bao gồm lisinopril. Hiện tượng này có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong điều trị. Phải ngưng thuốc ngay và điều trị triệu chứng trong trường hợp này, đảm bảo điều trị các triệu chứng dứt điểm trước khi ngừng điều trị cho bệnh nhân. Thậm chí trong trường hợp chỉ bị sưng ở lưỡi, hô hấp không gặp khó khăn, bệnh nhân vẫn có thể cân được theo dõi lâu dài vì điều trị bằng thuốc kháng histamin va corticosteroid có thể vẫn chưa đủ. Rất hiếm xảy ra tử vong do bệnh phù mạch đi kèm với phù thanh quản hoặc phù nề lưỡi. Bệnh nhân gặp vấn đề về lưỡi, thanh môn hoặc thanh quản, thường bị tắc nghẽn đường thở, đặc biệt là những người có tiền sử phẫu thuật đường thở. Trong những trường hợp như vậy, phải cấp cứu kịp thời. Có thể truyền Tĩnh mạch adrenalin và/hoặc duy trì đường thở của bệnh nhân. Bệnh nhân cần được giám sát y tế chặt chẽ cho đến khi các triệu chứng đã được giải quyết triệt để. Bệnh nhân có tiền sử bị phù mạch không liên quan đến việc điều trị bằng thuốc ức chế ACE có thể bị tăng nguy cơ phù mạch khi đang dùng thuốc ức chế ACE. (xem phần Chống chỉ định). - Phản ứng dạng phản vệ trên những bệnh nhân thẩm phân máu Đã có báo cáo về phản ứng phân vệ ở bệnh nhân thẩm phân máu với màng lọc hiệu năng cao (như là AN 69) và điều trị đồng thời với 1 thuốc ức chế men chuyển. Cần xem xét dùng loại màng thẩm phân khác hoặc nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp khác. - Phản ứng dạng phản vệ khi tách loại lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) Hiếm khi thấy bệnh nhân dùng thuốc ức chế men chuyển trong khi tách loại lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) bằng dextran sulphat có phản ứng phản vệ nguy hiểm tính mạng. Để tránh những phản ứng này, ngưng dùng thuốc ức chế men chuyển trước mỗi lần tách loại LDL. - Giải mẫn cảm Bệnh nhân dùng thuốc ức chế men chuyển trong quá trình điều trị giải mẫn cảm (như nọc độc của côn trùng Bộ cánh màng (Hymenoptera)) đã gặp những phản ứng dạng phản vệ kéo dài. Cũng ở những bệnh nhân này, ngưng dùng tạm thời thuốc ức chế men chuyển để tránh bị phản ứng phản vệ nhưng các phản ứng này lại xuất hiện trở lại khi vô tình dùng thuốc tiếp. - Suy gan Rất hiếm khi, các thuốc ức chế men chuyển có liên quan đến hội chứng vàng da hoặc viêm gan và tiến triển đến hoại tử kịch phát (đôi khi dẫn đến tử vong). Cơ chế của hội chứng này chưa được biết rõ. Bệnh nhân dùng lisinopril nếu bị vàng da hoặc tăng các chỉ số men gan thì phải ngưng dùng lisinopril và được tiếp tục theo dõi y tế thích hợp. - Giảm bạch cầu trung tính/mất bạch cầu hạt Giảm bạch cầu trung tính/mất bạch cầu hạt, giảm tiểu cầu và thiếu máu đã được báo cáo ở những bệnh nhân đang dùng thuốc ức chế men chuyển. Ở những bệnh nhân có chức năng thận bình thường và không có các yếu tố phức tạp khác, hiếm khi bị giảm bạch cầu trung tính. Giảm bạch cầu trung tính và mất bạch cầu hạt có thể hồi phục sau khi ngưng dùng thuốc ức chế men chuyển. Cần hết sức thận trọng khi sử dụng lisinopril ở những bệnh nhân bị bệnh mạch máu do collagen, hoặc đang điều trị với thuốc ức chế miễn dịch, điều trị với allopurinol hoặc procainamid, hoặc kết hợp giữa các yếu tố này, đặc biệt nếu bệnh nhân đã bị suy thận từ trước. Một số trong những bệnh nhân này diễn biến thành nhiễm trùng nghiêm trọng, trong một vài trường hợp không đáp ứng với kháng sinh liều cao. Nếu dùng lisinopril ở những bệnh nhân này, nên theo dõi định kỳ số lượng bạch cầu và phải hướng dẫn cho bệnh nhân thông báo ngay khi có bất cứ dấu hiệu nhiễm trùng nào. - Phong bế kép hệ thống Renin-angiotensin-aldosteron (RAAS) Có bằng chứng cho thấy việc sử dụng đồng thời các thuốc ức chế men chuyển, thuốc chẹn thụ thể angiotensin II hoặc aliskiren làm tăng nguy cơ hạ huyết áp, tăng kali máu và suy giảm chức năng thận (bao gồm suy thận cấp). Vì vậy, không khuyến cáo sử dụng đồng thời các thuốc ức chế men chuyển với thuốc chẹn thụ thể angiotensin II hoặc aliskiren dẫn đến chẹn kép hệ RAAS. Nếu liệu pháp chẹn kép là thực sự cần thiết thì phải có sự giám sát của chuyên gia y tế và phải theo đối chặt chẽ chức năng thận, điện giải và huyết áp. Không nên dùng đồng thời thuốc ức chế men chuyển và thuốc chẹn thụ thể angitotensin II trên bệnh nhân bị bệnh tiểu đường. - Ho Đã có báo cáo về hiện tượng ho khi dùng thuốc ức chế men chuyển. Đặc điểm là ho không tăng lên, nhưng dai dẳng và sẽ khỏi khi ngưng dùng thuốc. Cần lưu ý đến triệu chứng ho do dùng thuốc ức chế men chuyển khi tiến hành chẩn đoán phân biệt bệnh ho. - Phẫu thuật/gây tê Ở những bệnh nhân trải qua phẫu thuật lớn hoặc khi gây tê với các thuốc hạ huyết áp, lisinopril có thể ức chế sự hình thành angiotensin II thứ phát để bù lại sự phóng thích renin. Nếu bệnh nhân bị hạ huyết áp và xem xét thấy là do cơ chế này gây ra thì có thể điều trị bằng cách tăng thể tích dịch ngoại bào. - Tăng kali máu Đã có trường hợp bệnh nhân điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển, bao gồm lisinopril, bị tăng kali máu. Bệnh nhân có nguy cơ tăng kali máu bao gồm những người bị suy thận, đái tháo đường, hoặc những người đang sử dụng đồng thời thuốc lợi tiểu giữ kali (spironolacton, triamteren hoặc amilorid), đang sử dụng sản phẩm bổ sung kali hoặc sản phẩm có chứa muối kali, hoặc ở trên những bệnh nhân dùng các thuốc khác có liên quan đến tăng kali huyết thanh (ví dụ như heparin, phối hợp trimethoprim/sulfamethoxazol còn được gọi là cotrimoxazol). Nếu phải sử dụng đồng thời các thuốc trên, phải thường xuyên theo dõi nồng độ kali trong huyết thanh. - Bệnh nhân đái tháo đường Ở những bệnh nhân đái tháo đường được điều trị bằng thuốc uống điều trị đái tháo đường hoặc insulin, cần phải kiểm soát đường huyết chặt chẽ trong tháng điều trị đầu tiên với thuốc ức chế men chuyển. - Lithium Không khuyến cáo sử dụng đồng thời lithium và lisinopril (xem mục Tương tác, tương kỵ của thuốc). - Phụ nữ có thai Không dùng các thuốc ức chế men chuyển trên phụ nữ có thai. Trừ khi bắt buộc tiếp tục điều trị với thuốc ức chế men chuyển, bệnh nhân đang có kế hoạch mang thai phải chuyển sang dùng thuốc hạ huyết áp khác đã được biết là an toàn khi dùng trong thai kỳ. Khi được chẩn đoán đã mang thai, phải ngừng ngay việc điều trị với thuốc ức chế men chuyển, và nếu cần thiết, phải bắt đầu phương pháp điều trị khác. Sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai và cho con bú - Phụ nữ có thai: Không khuyến cáo sử dụng thuốc úc chế men chuyển trong 3 tháng đầu của thai kỳ (xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc). Chống chỉ định sử dụng thuốc ức chế men chuyển trong 3 tháng giữa và 3 tháng cuối của thai kỳ [(xem mục Chống chỉ định và mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc). Bằng chứng dịch tễ học liên quan đến nguy cơ gây quái thai sau khi dùng thuốc ức chế men chuyển trong 3 tháng đầu của thai kỳ vẫn chưa được kết luận, tuy nhiên, không thể loại trừ thuốc làm tăng nhẹ nguy cơ trong giai đoạn này. Trừ trường hợp bắt buộc phải tiếp tục sử dụng thuốc ức chế men chuyển, những bệnh nhân có dự định mang thai cần được chuyển sang các thuốc điều trị tăng huyết áp khác đã được xác định là an toàn để sử dụng trên phụ nữ có thai. Khi được xác định là có thai, phải ngừng dùng thuốc ức chế men chuyển ngay lập tức, và phải bắt đầu sử dụng liệu pháp thay thế phù hợp. Sử dụng thuốc ức chế men chuyển trong 3 tháng giữa và 3 tháng cuối của thai kỳ đã được biết là gây độc trên bào thai người (giảm chức năng thận, thiểu ối, chậm cốt hóa xương sọ) và độc tính trên trẻ sơ sinh (suy thận, hạ huyết áp, tăng kali huyết). Nếu đã xảy ra trường hợp dùng thuốc ức chế men chuyển trong 3 tháng giữa của thai kỳ, phải tiến hành siêu âm kiểm tra chức năng thận và hộp sọ. Những trẻ sơ sinh có mẹ đã dùng thuốc ức chế men chuyển phải được theo dõi chặt chẽ nguy cơ hạ huyết áp (xem mục Chống chỉ định và mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc). - Phụ nữ cho con bú Do chưa có thông tin về việc sử dụng lisinopril trên phụ nữ cho con bú, không khuyến cáo sử dụng thuốc trên phụ nữ cho con bú và cần thay thế bằng các thuốc khác với dữ liệu về độ an toàn đã được thiết lập đầy đủ hơn, đặc biệt là khi đang nuôi trẻ sơ sinh hoặc trẻ sinh non bằng sữa mẹ. Ảnh hưởng lên khả năng lái xe và vận hành máy móc Trong quá trình lái xe hoặc vận hành máy móc, cần lưu ý đôi khi có thể xảy ra chóng mặt hoặc mệt mỏi. Tương tác thuốc - Thuốc điều trị tăng huyết áp Khi dùng lisinopril kết hợp với các thuốc hạ huyết áp khác (glyceryl trinitrat và các thuốc nitrat khác hoặc các thuốc giãn mạch khác), có thể xuất hiện tác dụng hiệp đồng gây hạ huyết áp. Dữ liệu lâm sàng cho thấy tác dụng chẹn kép hệ thống renin-angiotensin-aldosteron (RAAS) thông qua việc kết hợp sử dụng các thuốc ức chế men chuyển, thuốc chẹn thụ thể angiotensin II hoặc aliskiren có liên quan đến việc tần suất các phản ứng phụ như hạ huyết áp, tăng kali máu và suy giảm chức năng thận (bao gồm cả suy thận cấp) so với khi dùng một loại thuốc có tác dụng RAAS. - Thuốc lợi tiểu Khi thuốc bệnh nhân đang dùng lisinopril lại dùng bổ sung thêm thuốc lợi tiểu thì tác dụng hạ huyết áp thường tăng lên. Bệnh nhân đã dùng thuốc lợi tiểu và đặc biệt là những người đã được điều trị bằng thuốc lợi tiểu trước đó, đôi khi có thể bị giảm huyết áp mạnh khi dùng bổ sung thêm lisinopril. Hạ huyết áp triệu chứng khi dùng lisinopril có thể được giảm thiểu bằng cách ngưng dùng thuốc lợi tiểu trước khi bắt đầu điều trị với lisinopril. - Thuốc bổ sung kali, thuốc lợi tiểu giữ kali các thuốc khác có chứa muối kali có thể làm tăng nồng độ kali trong huyết thanh. Mặc dù trong các thử nghiệm lâm sàng, nồng độ kali trong huyết thanh thường nằm trong giới hạn bình thường, tăng kali máu đã xảy ra ở một số bệnh nhân. Việc sử dụng sản phẩm bổ sung kali, thuốc lợi tiểu giữ kali hoặc các thuốc khác có chứa muối kali hoặc các thuốc khác có thể làm tăng nồng độ kali trong huyết thanh, đặc biệt ở bệnh nhân bị suy giảm chức năng thận, có thể làm tăng đáng kể nồng độ kali trong huyết thanh. Cần theo dõi nồng độ kali trong huyết thanh (xem phần Thận trọng). Nếu dùng Iisinopril với thuốc lợi tiểu làm giảm nồng độ kali trong huyết thanh thì tình hình có thể được cải thiện. - Lithium Đã có báo cáo về sự tăng nồng độ và độc tính lithi trong huyết thanh khi dùng đồng thời lithi với thuốc ức chế ACE. Dùng đồng thời với thuốc lợi tiểu thiazid có thể làm tăng nguy cơ độc tính lithi và làm tăng thêm độc tính của lithi khi dùng với thuốc ức chế men chuyển. Vì vậy, không nên dùng phối hợp lisinopril với lithi, phải theo dõi cẩn thận nồng độ lithi trong huyết thanh nếu nhất thiết phải phối hợp 2 thuốc trên. - Các thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs) bao gồm acid acetylsalicylic ≥ 3g /ngày Khi thuốc ức chế men chuyển được dùng đồng thời với các thuốc kháng viêm không steroid (ví dụ như acid acetylsalicylic với liều dùng để chống viêm, thuốc ức chế COX-2 và NSAID không chọn lọc), hiệu quả hạ huyết áp của thuốc có thể bị giảm đi. Sử dụng đồng thời các chất ức chế ACE và NSAIDs có thể làm tăng nguy cơ suy giảm chức năng thận, có thể bao gồm cả suy thận cấp tính và tăng kali huyết thanh, đặc biệt ở những bệnh nhân có chức năng thận kém từ trước. Hiện tượng này thường có thể đảo ngược được. Nên dùng phối hợp thuốc một cách cẩn thận, đặc biệt ở người cao tuổi. Bệnh nhân nên uống đủ nước và cần phải theo đối chức năng thận sau khi bắt đầu điều trị phối hợp thuốc, và định kỳ sau đó. - Vàng Phản ứng Nitritoid (hội chứng giãn mạch bao gồm đỏ bừng mặt, buồn nôn, chóng mặt và hạ huyết áp, đôi khi có thể rất nghiêm trọng) sau khi tiêm vàng (ví dụ natri aurothiomalat) đã được báo cáo xảy ra nhiều hơn ở những bệnh nhân đang điều trị với thuốc ức chế men chuyển. - Thuốc chống trầm cảm ba vòng/Thuốc chống loạn thần/Thuốc gây mê Sử dụng đồng thời một số thuốc gây mê, thuốc chống trầm cảm ba vòng và thuốc chống loạn thần với thuốc ức chế ACE có thể làm giảm huyết áp thêm nữa (xem phần Thận trọng) - Thuốc kích thích giao cảm Thuốc kích thích giao cảm có thể làm giảm tác dụng hạ huyết áp của thuốc ức chế men chuyển. - Thuốc điều trị đái tháo đường Các nghiên cứu dịch tễ học đã cho thấy dùng đồng thời thuốc ức chế men chuyển và thuốc điều trị bệnh tiểu đường (insulin, thuốc hạ đường huyết dạng uống) có thể làm tăng tác dụng hạ đường huyết kèm theo nguy cơ hạ đường huyết. Hiện tượng này dường như hay xảy ra hơn trong những tuần đầu điều trị kết hợp và ở bệnh nhân suy thận. - Các chất hoạt hóa plasminogen mô Sử dụng đồng thời với các chất hoạt hóa plasminogen mô có thể làm tăng nguy cơ phù mạch. - Acid acetylsalicylic, thuốc tan huyết, thuốc chẹn beta, nitrat Lisinopril có thể được sử dụng đồng thời với acid acetylsalicylic (ở liều điều trị tim mạch), thuốc tan huyết, thuốc chẹn beta và/hoặc nitrat. - Ciclosporin Có thể xảy ra tình trạng tăng kali huyết khi dùng đồng thời thuốc ức chế men chuyển với ciclosporin. Nếu phải dùng đồng thời, cần theo dõi nồng độ kali huyết thanh. - Heparin Có thể xảy ra tình trạng tăng kali huyết khi dùng đồng thời thuốc ức chế men chuyển với heparin. Nếu phải dùng đồng thời, cần theo dõi nồng độ kali huyết thanh.

Mô tả chi tiết

Lotafran 20mg là gì? Thuốc Lotafran 20mg của Công ty S.C. Antibiotice S.A. - Romani có thành phần chính Lisinopril, dùng điều trị tăng huyết áp, điều trị suy tim, khi nhồi máu cơ tim cấp có huyết động ổn định, điều trị biến chứng trên thận cho bệnh nhân đái tháo đường.

Dữ liệu được ghi nhận vào 2026-08-28T04:04:51.422Z. Dược Hub cung cấp thông tin tham khảo, không bán thuốc trực tuyến và không thay thế tư vấn của bác sĩ hoặc dược sĩ. Giá thuốc và tồn kho không được công bố tại URL này.