← Danh mục thuốc

Thông tin sản phẩm tham khảo

Lyapi 100mg/5ml Apimed (Hộp 20 ống x 5ml)

Công dụng Công dụng (Chỉ định) Đau thần kinh: LYAPI được chỉ định để điều trị đau thần kinh trung ương và ngoại biên ở người lớn. Động kinh: LYAPI được chỉ định điều trị bổ trợ các cơn động kinh một phần có hoặc không có toàn thể thứ phát ở người lớn. Rối loạn lo âu toàn thể: LYAPI được chỉ định để điều trị rối loạn lo âu toàn thể (GAD) ở người lớn. ĐẶC TÍNH DƯỢC LỰC HỌC Nhóm dược lý: Thuốc chống co giật, thuốc giảm đau Mã ATC: N03AX16 Pregabalin là thuốc chống co giật và giảm đau. Pregabalin có cấu trúc tương tự chất ức chế thần kinh trung ương GABA, song không gắn trực tiếp với các thụ thể GABAA, GABAB, hay thụ thể của benzodiazepin, không làm tăng đáp ứng của GABA, trên các tế bào thần kinh nuôi cấy, cũng không làm thay đổi nồng độ GABA trên não chuột, không ảnh hưởng đến thu hồi cũng như thoái giáng GABA. Trên các tế bào thần kinh nuôi cấy, sử dụng lâu dài pregabalin sẽ làm tăng mật độ các protein vận chuyển và tăng tốc độ vận chuyển GABA. Pregabalin gắn với các tiểu phần thần kinh trung ương với ái lực cao tại vị trí α2−δ (một tiểu đơn vị của kênh calci phụ thuộc vào điện thế). Mặc dù cơ chế chính xác của pregabalin chưa được biết đầy đủ, song việc gắn với tiểu đơn vị α2−δ có thể có liên quan đến tác dụng giảm đau và chống co giật của pregabalin. In vitro, pregabalin làm giảm sự giải phóng các chất dẫn truyền thần kinh phụ thuộc calci như glutamat, norepinephrin, peptid tiền thân của điều hòa calcitonin, và chất P, có thể thông qua điều hòa chức năng của kênh calci. ĐẶC TÍNH DƯỢC ĐỘNG HỌC Hấp thu: Pregabalin được hấp thu nhanh khi dùng lúc đói, nồng độ đỉnh trong huyết tương xuất hiện trong vòng 1 giờ sau khi dùng đơn liều và đa liều. Pregabalin có sinh khả dụng đường uống được ước tính ≥90% và không phụ thuộc liều. Sau khi dùng liều lặp lại, trạng thái ổn định đạt được trong vòng 24-48 giờ. Tốc độ hấp thu của pregabalin giảm khi dùng với thức ăn dẫn đến giảm Cmax khoảng 25−30% và kéo dài Tmax khoảng 2,5 giờ. Tuy nhiên, dùng pregabalin với thức ăn không ảnh hưởng đáng kể đến mức độ hấp thu pregabalin về mặt lâm sàng. Phân bố: Các nghiên cứu tiền lâm sàng cho thấy pregabalin qua được hàng rào máu não ở chuột nhắt, chuột cống và khỉ. Pregabalin qua được nhau thai ở chuột cống và hiện diện trong sữa chuột mẹ. Ở người, thể tích phân bố biểu kiến của pregabalin sau khi uống khoảng 0,56 l/kg. Pregabalin không gắn kết với protein huyết tương. Chuyển hóa: Pregabalin bị chuyển hóa không đáng kể ở người. Sau khi dùng một liều pregabalin được đánh dấu phóng xạ, khoảng 98% hoạt tính phóng xạ được tìm thấy trong nước tiểu dưới dạng pregabalin không đổi. Dẫn chất N-methyl hóa của pregabalin, chất chuyển hóa chính của pregabalin được tìm thấy trong nước tiểu, chiếm 0,9% liều dùng. Trong các nghiên cứu tiền lâm sàng, không có dấu hiệu của sự racemic hóa pregabalin từ dạng S-enantiomer sang dạng R-enantiomer. Thải trừ: Pregabalin được thải trừ ra khỏi hệ tuần hoàn chủ yếu nhờ bài tiết qua thận dưới dạng không đổi. Pregabalin có thời gian bán thải trung bình là 6,3 giờ. Độ thanh thải pregabalin qua huyết tương và qua thận tỷ lệ thuận với độ thanh thải creatinin. Cần điều chỉnh liều ở những bệnh nhân có chức năng thận giảm hoặc đang thẩm phân máu. Tính tuyến tính/không tuyến tính: Dược động học của pregabalin tuyến tính trong khoảng liều khuyến cáo hàng ngày. Sự biến thiên dược động học của pregabalin giữa các cá thể thấp (≤20%). Dược động học của đa liều có thể dự đoán từ dữ liệu của đơn liều. Vì vậy, không cần theo dõi thường xuyên nồng độ pregabalin trong huyết tương. Giới tính: Thử nghiệm lâm sàng cho thấy giới tính không ảnh hưởng đáng kể về mặt lâm sàng đến nồng độ pregabalin trong huyết tương. Suy thận: Độ thanh thải pregabalin tỷ lệ thuận với độ thanh thải creatinin. Ngoài ra, pregabalin được loại bỏ hiệu quả khỏi huyết tương nhờ thẩm phân máu (sau 4 giờ thẩm phân máu nồng độ pregabalin trong huyết tương giảm khoảng 50%). Độ thải trừ qua thận là đường thải trừ chính nên cần giảm liều ở những bệnh nhân suy thận và dùng liều bổ sung sau thẩm phân. Suy gan: Không có các nghiên cứu dược động học chuyên biệt được thực hiện ở những bệnh nhân suy chức năng gan. Vì pregabalin được chuyển hóa không đáng kể và được thải trừ qua nước tiểu dưới dạng không đổi, chức năng gan suy giảm sẽ không làm thay đổi đáng kể nồng độ pregabalin trong huyết tương. Trong trẻ em Dược động học của pregabalin được đánh giá ở bệnh nhi bị động kinh (nhóm tuổi: 1−23 tháng, 2−6 tuổi, 7−11 tuổi và 12−16 tuổi) ở mức liều 2,5, 5, 10 và 15 mg/ kg/ ngaˋy trong một nghiên cứu về dược động học và khả năng dung nạp thuốc. Sau khi cho bệnh nhi uống pregabalin vào lúc đói, thông thường thời gian để đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương tương tự nhau trên toàn bộ nhóm tuổi và xuất hiện sau 0,5−2 giờ dùng thuốc. Các thông số Cmax và AUC của pregabalin tuyến tính khi tăng liều trong mỗi nhóm tuổi. AUC thấp hơn khoảng 30% ở bệnh nhi <30 kg do việc tăng lượng cơ thể điều chỉnh độ thanh thải khoảng 43% ở những bệnh nhân này so với những bệnh nhân ≥30 kg. Pregabalin có thời gian bán thải cuối cùng trung bình khoảng 3−4 giờ ở bệnh nhi ≤6 tuổi, và 4−6 giờ ở bệnh nhi ≥7 tuổi. Phần thanh thải dược động theo dân số cho thấy độ thanh thải creatinin là một đóng góp có ý nghĩa của độ thanh thải pregabalin đường uống, trọng lượng cơ thể là một đóng góp biến có ý nghĩa của thể tích phân bố biểu kiến của pregabalin, và các mối liên hệ này tương tự nhau ở trẻ em và người lớn. Dược động học của pregabalin ở bệnh nhi <3 tháng tuổi chưa được nghiên cứu. Người cao tuổi: Độ thanh thải pregabalin có xu hướng giảm khi tuổi tăng. Việc giảm độ thanh thải pregabalin đường uống này không phụ thuộc vào việc giảm độ thanh thải creatinin liên quan đến tuổi tăng. Có thể cần giảm liều pregabalin ở những bệnh nhân có chức năng thận bị tổn thương liên quan đến tuổi. Phụ nữ đang cho con bú: Dược động học của pregabalin 150 mg cho mỗi 12 giờ (300 mg/ ngày) được đánh giá trên 10 phụ nữ cho con bú ít nhất 12 tuần sau khi sinh. Việc cho con bú ít hoặc không ảnh hưởng đến dược động học của pregabalin. Pregabalin được bài tiết vào sữa mẹ với nồng độ ổn định trung bình khoảng 76% trong huyết tương của người mẹ. Liều trẻ sơ sinh ước tính từ sữa (giả sử mức tiêu thụ sữa trung bình là 150 ml/ kg/ ngày) của phụ nữ dùng 300 mg/ ngàyhoặc hoặc liều tối đa 600 mg/ ngày sẽ tương ứng là 0,31 mg/ kg/ ngày hoặc 0,62 mg/ kg/ ngày. Những liều ước tính này chiếm khoảng 7% tổng liều hàng ngày của người mẹ tính theo mg/ kg.

Thương hiệu
Apimed
Phân loại
Thuốc kê đơn
Số đăng ký
893110871124
Quy cách/đơn vị
Hộp
Nhà sản xuất
Apimed

Công dụng / chỉ định

Công dụng Công dụng (Chỉ định) Đau thần kinh: LYAPI được chỉ định để điều trị đau thần kinh trung ương và ngoại biên ở người lớn. Động kinh: LYAPI được chỉ định điều trị bổ trợ các cơn động kinh một phần có hoặc không có toàn thể thứ phát ở người lớn. Rối loạn lo âu toàn thể: LYAPI được chỉ định để điều trị rối loạn lo âu toàn thể (GAD) ở người lớn. ĐẶC TÍNH DƯỢC LỰC HỌC Nhóm dược lý: Thuốc chống co giật, thuốc giảm đau Mã ATC: N03AX16 Pregabalin là thuốc chống co giật và giảm đau. Pregabalin có cấu trúc tương tự chất ức chế thần kinh trung ương GABA, song không gắn trực tiếp với các thụ thể GABAA, GABAB, hay thụ thể của benzodiazepin, không làm tăng đáp ứng của GABA, trên các tế bào thần kinh nuôi cấy, cũng không làm thay đổi nồng độ GABA trên não chuột, không ảnh hưởng đến thu hồi cũng như thoái giáng GABA. Trên các tế bào thần kinh nuôi cấy, sử dụng lâu dài pregabalin sẽ làm tăng mật độ các protein vận chuyển và tăng tốc độ vận chuyển GABA. Pregabalin gắn với các tiểu phần thần kinh trung ương với ái lực cao tại vị trí α2−δ (một tiểu đơn vị của kênh calci phụ thuộc vào điện thế). Mặc dù cơ chế chính xác của pregabalin chưa được biết đầy đủ, song việc gắn với tiểu đơn vị α2−δ có thể có liên quan đến tác dụng giảm đau và chống co giật của pregabalin. In vitro, pregabalin làm giảm sự giải phóng các chất dẫn truyền thần kinh phụ thuộc calci như glutamat, norepinephrin, peptid tiền thân của điều hòa calcitonin, và chất P, có thể thông qua điều hòa chức năng của kênh calci. ĐẶC TÍNH DƯỢC ĐỘNG HỌC Hấp thu: Pregabalin được hấp thu nhanh khi dùng lúc đói, nồng độ đỉnh trong huyết tương xuất hiện trong vòng 1 giờ sau khi dùng đơn liều và đa liều. Pregabalin có sinh khả dụng đường uống được ước tính ≥90% và không phụ thuộc liều. Sau khi dùng liều lặp lại, trạng thái ổn định đạt được trong vòng 24-48 giờ. Tốc độ hấp thu của pregabalin giảm khi dùng với thức ăn dẫn đến giảm Cmax khoảng 25−30% và kéo dài Tmax khoảng 2,5 giờ. Tuy nhiên, dùng pregabalin với thức ăn không ảnh hưởng đáng kể đến mức độ hấp thu pregabalin về mặt lâm sàng. Phân bố: Các nghiên cứu tiền lâm sàng cho thấy pregabalin qua được hàng rào máu não ở chuột nhắt, chuột cống và khỉ. Pregabalin qua được nhau thai ở chuột cống và hiện diện trong sữa chuột mẹ. Ở người, thể tích phân bố biểu kiến của pregabalin sau khi uống khoảng 0,56 l/kg. Pregabalin không gắn kết với protein huyết tương. Chuyển hóa: Pregabalin bị chuyển hóa không đáng kể ở người. Sau khi dùng một liều pregabalin được đánh dấu phóng xạ, khoảng 98% hoạt tính phóng xạ được tìm thấy trong nước tiểu dưới dạng pregabalin không đổi. Dẫn chất N-methyl hóa của pregabalin, chất chuyển hóa chính của pregabalin được tìm thấy trong nước tiểu, chiếm 0,9% liều dùng. Trong các nghiên cứu tiền lâm sàng, không có dấu hiệu của sự racemic hóa pregabalin từ dạng S-enantiomer sang dạng R-enantiomer. Thải trừ: Pregabalin được thải trừ ra khỏi hệ tuần hoàn chủ yếu nhờ bài tiết qua thận dưới dạng không đổi. Pregabalin có thời gian bán thải trung bình là 6,3 giờ. Độ thanh thải pregabalin qua huyết tương và qua thận tỷ lệ thuận với độ thanh thải creatinin. Cần điều chỉnh liều ở những bệnh nhân có chức năng thận giảm hoặc đang thẩm phân máu. Tính tuyến tính/không tuyến tính: Dược động học của pregabalin tuyến tính trong khoảng liều khuyến cáo hàng ngày. Sự biến thiên dược động học của pregabalin giữa các cá thể thấp (≤20%). Dược động học của đa liều có thể dự đoán từ dữ liệu của đơn liều. Vì vậy, không cần theo dõi thường xuyên nồng độ pregabalin trong huyết tương. Giới tính: Thử nghiệm lâm sàng cho thấy giới tính không ảnh hưởng đáng kể về mặt lâm sàng đến nồng độ pregabalin trong huyết tương. Suy thận: Độ thanh thải pregabalin tỷ lệ thuận với độ thanh thải creatinin. Ngoài ra, pregabalin được loại bỏ hiệu quả khỏi huyết tương nhờ thẩm phân máu (sau 4 giờ thẩm phân máu nồng độ pregabalin trong huyết tương giảm khoảng 50%). Độ thải trừ qua thận là đường thải trừ chính nên cần giảm liều ở những bệnh nhân suy thận và dùng liều bổ sung sau thẩm phân. Suy gan: Không có các nghiên cứu dược động học chuyên biệt được thực hiện ở những bệnh nhân suy chức năng gan. Vì pregabalin được chuyển hóa không đáng kể và được thải trừ qua nước tiểu dưới dạng không đổi, chức năng gan suy giảm sẽ không làm thay đổi đáng kể nồng độ pregabalin trong huyết tương. Trong trẻ em Dược động học của pregabalin được đánh giá ở bệnh nhi bị động kinh (nhóm tuổi: 1−23 tháng, 2−6 tuổi, 7−11 tuổi và 12−16 tuổi) ở mức liều 2,5, 5, 10 và 15 mg/ kg/ ngaˋy trong một nghiên cứu về dược động học và khả năng dung nạp thuốc. Sau khi cho bệnh nhi uống pregabalin vào lúc đói, thông thường thời gian để đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương tương tự nhau trên toàn bộ nhóm tuổi và xuất hiện sau 0,5−2 giờ dùng thuốc. Các thông số Cmax và AUC của pregabalin tuyến tính khi tăng liều trong mỗi nhóm tuổi. AUC thấp hơn khoảng 30% ở bệnh nhi <30 kg do việc tăng lượng cơ thể điều chỉnh độ thanh thải khoảng 43% ở những bệnh nhân này so với những bệnh nhân ≥30 kg. Pregabalin có thời gian bán thải cuối cùng trung bình khoảng 3−4 giờ ở bệnh nhi ≤6 tuổi, và 4−6 giờ ở bệnh nhi ≥7 tuổi. Phần thanh thải dược động theo dân số cho thấy độ thanh thải creatinin là một đóng góp có ý nghĩa của độ thanh thải pregabalin đường uống, trọng lượng cơ thể là một đóng góp biến có ý nghĩa của thể tích phân bố biểu kiến của pregabalin, và các mối liên hệ này tương tự nhau ở trẻ em và người lớn. Dược động học của pregabalin ở bệnh nhi <3 tháng tuổi chưa được nghiên cứu. Người cao tuổi: Độ thanh thải pregabalin có xu hướng giảm khi tuổi tăng. Việc giảm độ thanh thải pregabalin đường uống này không phụ thuộc vào việc giảm độ thanh thải creatinin liên quan đến tuổi tăng. Có thể cần giảm liều pregabalin ở những bệnh nhân có chức năng thận bị tổn thương liên quan đến tuổi. Phụ nữ đang cho con bú: Dược động học của pregabalin 150 mg cho mỗi 12 giờ (300 mg/ ngày) được đánh giá trên 10 phụ nữ cho con bú ít nhất 12 tuần sau khi sinh. Việc cho con bú ít hoặc không ảnh hưởng đến dược động học của pregabalin. Pregabalin được bài tiết vào sữa mẹ với nồng độ ổn định trung bình khoảng 76% trong huyết tương của người mẹ. Liều trẻ sơ sinh ước tính từ sữa (giả sử mức tiêu thụ sữa trung bình là 150 ml/ kg/ ngày) của phụ nữ dùng 300 mg/ ngàyhoặc hoặc liều tối đa 600 mg/ ngày sẽ tương ứng là 0,31 mg/ kg/ ngày hoặc 0,62 mg/ kg/ ngày. Những liều ước tính này chiếm khoảng 7% tổng liều hàng ngày của người mẹ tính theo mg/ kg.

Thành phần

Thành phần Pregabalin 100mg/ 5 ml Thành phần hoạt chất: Pregabalin: 100 mg. Thành phần tá dược: Sucralose, Natri Dihydrophosphat anhydrous, dinatri hydrophosphat anhydrous, methylparaben, propylparaben, hương anh đào (dạng lỏng), nước tinh khiết.

Cách dùng

Hướng dẫn sử dụng Liều dùng: Từ 150 đến 600 mg (7,5 – 30 ml) mỗi ngày, được chia thành hai hoặc ba lần Đau thần kinh: Pregabalin có thể được khởi đầu với liều 150 mg (7,5 ml) mỗi ngày được chia thành hai hoặc ba lần (uống 2,5 ml/ lần, 3 lần/ ngày). Dựa trên đáp ứng và khả năng dung nạp của từng bệnh nhân, có thể tăng liều lên đến 300 mg (15 ml) mỗi ngày (uống 5 ml/ lần, 3 lần/ ngày hoặc 7,5 ml/ lần, 2 lần/ ngày) sau 3-7 ngày, và nếu cần, tăng đến liều tối đa 600 mg (30 ml) mỗi ngày (uống 10 ml/ lần, 3 lần/ ngày hoặc 15 ml/ lần, 2 lần/ ngày) sau 7 ngày Động kinh: Pregabalin có thể được khởi đầu với liều 150 mg (7,5 ml) mỗi ngày chia hai hoặc ba lần (uống 2,5 ml/ lần, 3 lần/ ngày). Dựa trên đáp ứng và khả năng dung nạp của từng bệnh nhân, liều dùng có thể tăng lên đến 300 mg (15 ml) mỗi ngày (uống 5 ml/ lần, 3 lần/ ngày hoặc 7,5 ml/ lần, 2 lần/ ngày) sau 1 tuần. Liều tối đa 600 mg (30 ml) mỗi ngày (uống 10 ml/ lần, 3 lần/ ngày hoặc 15 ml/ lần, 2 lần/ ngày) có thể đạt được sau một tuần nữa Rối loạn lo âu toàn thể: Liều dùng từ 150 đến 600 mg (7,5 – 30 ml) mỗi ngày được chia thành hai hoặc ba lần. Sự cần thiết của việc điều trị nên được đánh giá lại thường xuyên. Pregabalin có thể được khởi đầu với liều 150 mg (7,5 ml) mỗi ngày (uống 2,5 ml/ lần, 3 lần/ ngày). Dựa trên đáp ứng và khả năng dung nạp của từng bệnh nhân, liều dùng có thể tăng lên đến 300 mg (15 ml) mỗi ngày (uống 5 ml/ lần, 3 lần/ ngày hoặc 7,5 ml/ lần, 2 lần/ ngày) sau 1 tuần. Tuần sau đó, có thể tăng liều lên đến 450 mg (22,5 ml) mỗi ngày (uống 7,5 ml/ lần, 3 lần/ ngày). Liều tối đa 600 mg (30 ml) mỗi ngày (uống 10 ml/ lần, 3 lần/ ngày hoặc 15 ml/ lần, 2 lần/ ngày) có thể đạt được sau một tuần nữa Cách dùng: LYAPI được dùng bằng đường uống LYAPI có thể dùng cùng hoặc không cùng với thức ăn Ngưng pregabalin: Theo thực hành lâm sàng hiện nay, nếu ngưng pregabalin, người ta khuyến cáo nên được thực hiện dần dần, tối thiểu là 1 tuần, không phụ thuộc vào chỉ định Không có yêu cầu đặc biệt về xử lý thuốc sau khi sử dụng Bệnh nhân suy thận: Pregabalin được loại bỏ khỏi hệ tuần hoàn chủ yếu do bài tiết qua thận ở dạng không đổi. Vì độ thanh lọc pregabalin tỷ lệ thuận với độ thanh lọc creatinin, giảm liều ở những bệnh nhân có chức năng thận bị tổn hại1 phải đặc thù theo độ thanh lọc creatinin Sử dụng ở bệnh nhân suy gan: Không cần chỉnh liều ở bệnh nhân suy gan234 Bệnh nhi: Hiệu lực và độ an toàn của LYAPI ở trẻ em dưới 12 tuổi và ở thanh thiếu niên (12-17 tuổi) chưa được xác lập. Không có nghiên cứu Sử dụng ở người cao tuổi (trên 65 tuổi): Bệnh nhân cao tuổi có thể cần giảm liều pregabalin do chức năng thận giảm Quá liều và cách xử trí: Triệu chứng: Trong quá trình lưu hành thuốc, các tác dụng không mong muốn thường gặp nhất khi dùng quá liều pregabalin bao gồm buồn ngủ, trạng thái lú lẫn, kích động và bồn chồn. Động kinh cũng được báo cáo. Hiếm gặp trường hợp hôn mê Xử trí: Điều trị quá liều pregabalin nên bao gồm các biện pháp hỗ trợ chung và có thể bao gồm cả thẩm phân máu nếu cần thiết

Lưu ý và cảnh báo

Sản phẩm này chỉ bán khi có chỉ định của bác sĩ, mọi thông tin trên đây chỉ mang tính chất tham khảo. Vui lòng đọc kĩ thông tin chi tiết ở tờ hướng dẫn sử dẫn của sản phẩm.

Mô tả chi tiết

Lyapi có thành phần chính là Pregabali được chỉ định dùng trong trường hợp điều trị đau thần kinh trung ương và ngoại biên ở người lớn. Dưới đây là một số thông tin về thuốc.

Dữ liệu được ghi nhận vào 2026-08-28T04:04:51.422Z. Dược Hub cung cấp thông tin tham khảo, không bán thuốc trực tuyến và không thay thế tư vấn của bác sĩ hoặc dược sĩ. Giá thuốc và tồn kho không được công bố tại URL này.