← Danh mục thuốc

Thông tin sản phẩm tham khảo

Thuốc Menida 20mg Merap điều trị viêm mũi dị ứng (2 vỉ x 10 viên)

Thuốc chống dị ứng Menida là viên nén chứa Bilastine dùng điều trị triệu chứng trong trường hợp viêm mũi dị ứng (quanh năm hoặc theo mùa) và mày đay được chỉ định cho người lớn và trẻ em ≥ 12 tuổi.

Thương hiệu
Merap
Phân loại
Thuốc kê đơn
Số đăng ký
VD3-203-22
Quy cách/đơn vị
Hộp
Nhà sản xuất
CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC PHẨM SAO KIM

Công dụng / chỉ định

Chỉ định Thuốc chống dị ứng Menida chỉ định điều trị triệu chứng trong trường hợp viêm mũi dị ứng (quanh năm hoặc theo mùa) và mày đay. Thuốc được chỉ định cho người lớn và trẻ em ≥ 12 tuổi. Dược lực học Nhóm dược lý trị liệu: Thuốc kháng histamin sử dụng đường toàn thân, các thuốc kháng histamin khác sử dụng đường toàn thân Mã ATC: R06AX29 Cơ chế tác dụng Bilastine là một chất đối kháng histamin không gây buồn ngủ, có tác dụng kéo dài, đối kháng chọn lọc trên thụ thể H1 ngoại vi và không có ái lực với thụ thể muscarinic. Bilastine ức chế các phản ứng mẫn ngứa, ban đỏ trên da do histamin trong vòng 24 giờ sau khi sử dụng một liều đơn. Hiệu quả lâm sàng và tính an toàn Trong các thử nghiệm lâm sàng được thực hiện trên người lớn và trẻ vị thành niên bị viêm mũi dị ứng (theo mùa hoặc quanh năm), sử dụng bilastine 20 mg, 1 lần/ngày trong vòng 14 - 28 ngày, đem lại hiệu quả trong việc làm giảm các triệu chứng như hắt hơi , chảy nước mũi, ngứa mũi, ngạt mũi, chảy nước mắt và đỏ mắt. Bilastine kiểm soát hiệu quả các triệu chứng trong vòng 24 giờ. Trong hai thử nghiệm lâm sàng được thực hiện trên bệnh nhân mày đay nguyên phát mạn tính, uống bilastine 20 mg, 1 lần/ngày trong 28 ngày đã chứng minh được hiệu quả làm giảm mức độ ngứa và giảm số lượng, kích thước của các vết sần cũng như cảm giác khó chịu của bệnh nhân do mày đay. Bệnh nhân cải thiện được chất lượng giấc ngủ và chất lượng cuộc sống. Không có trường hợp nào kéo dài khoảng QT hiệu chỉnh hay bất kỳ tác dụng không mong muốn trên tim mạch nào được ghi nhận trong các thử nghiệm lâm sàng của bilastine, ngay cả với liều 200 mg mỗi ngày (gấp 10 lần liều điều trị) trong vòng 7 ngày ở 9 bệnh nhân, hoặc thậm chí ngay cả khi cùng phối hợp với các thuốc ức chế P-gp, như ketoconazole (24 bệnh nhân) và erythromycin (24 bệnh nhân). Thêm vào đó, một nghiên cứu theo dõi cẩn thận khoảng QT cũng đã được thực hiện trên 30 người tình nguyện. Trong các thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát, khi sử dụng liều khuyến cáo là 20 mg một lần/ngày, dữ liệu về tính an toàn trên hệ thần kinh trung ương của bilastine tương đương với giả dược và tỉ lệ ghi nhận tình trạng buồn ngủ không khác biệt có ý nghĩa thống kê so với giả được. Các thử nghiệm lâm sàng cho thấy bilastine với liều 40 mg một lần/ngày không ảnh hưởng đến hoạt động tâm thần vận động cũng như khả năng lái xe được đánh giá thông qua một bài kiểm tra lái xe quy chuẩn. Kết quả thu được ở người cao tuổi (≥ 65 tuổi) được lựa chọn trong nghiên cứu pha II và pha III cho thấy không có sự khác biệt trong hiệu quả cũng như độ an toàn khi so sánh với nhóm bệnh nhân trẻ tuổi hơn. Một nghiên cứu sau khi lưu hành ở 146 bệnh nhân cao tuổi cho thấy không có sự khác biệt trong hồ sơ an toàn đối với người lớn trưởng thành. Trẻ em 128 trẻ vị thành niên (12 – 17 tuổi) được sử dụng bilastine trong nghiên cứu lâm sàng cho thấy không thấy có sự khác biệt về hiệu quả và an toàn giữa người lớn và trẻ vị thành niên. Dược động học Hấp thu Bilastine được hấp thu nhanh sau khi uống và đạt nồng độ tối đa trong huyết tương sau khoảng 1,3 giờ. Thuốc không bị tích lũy. Giá trị trung bình sinh khả dụng đường uống của bilastine là 61%. Phân bố Nghiên cứu in vitro và in vivo cho thấy bilastine là một cơ chất của P-gp và cơ chất của OATP. Bilastine không phải là cơ chất của các chất vận chuyển BCRP hoặc chất vận chuyển tại thận OCT2, OAT1 và OAT3. Theo các nghiên cứu in vitro, bilastine dự kiến không ức chế các chất vận chuyển trong toàn hệ thống, bao gồm: P-gp, MRP2, BCRP, BSEP, OATP1B1, OATP1B3, OATP2B1, OAT1, OAT3, OCT1, OCT2, và NTCP, do chỉ có mức độ ức chế thấp được ghi nhận với P-gp, OATP2B1 và OCT1, với giá trị IC50 ước tính > 300 µM, cao hơn rất nhiều so với nồng độ tối đa ước tính trong huyết tương Cmax. Vì thế, các tương tác này không có nhiều ảnh hưởng trên lâm sàng. Tuy nhiên, cũng theo các nghiên cứu này, không thể loại trừ tác dụng ức chế của bilastine lên các chất vận chuyển trên niêm mạc ruột. Ở liều điều trị, tỉ lệ gắn với protein huyết tương của thuốc là 84 - 90%. Chuyển hóa Kết quả các nghiên cứu in vitro cho thấy bilastine không cảm ứng hoặc ức chế hoạt tính của CYP450. Thải trừ Trong một nghiên cứu cân bằng khối được thực hiện trên người tình nguyện khỏe mạnh, sau khi uống một liều đơn 20 mg 14 C-bilastine, gần như 95% liều dùng được tìm thấy trong nước tiểu (28,3%) và phân (66,5%) dưới dạng bilastine không biến đổi. Điều này cho thấy bilastine không được chuyển hóa nhiều trong cơ thể người. Thời gian bán thải trung bình tính trên người tình nguyện khỏe mạnh là 14,5 giờ. Mức độ tuyến tính Bilastine biểu hiện mô hình dược động học tuyến tính trong khoảng liều nghiên cứu (5 đến 220 mg), với mức độ dao động nhỏ giữa các cá thể. Các đối tượng đặc biệt Bệnh nhân suy thận: Trong một nghiên cứu trên các bệnh nhân suy thận, giá trị trung bình (± SD) của AUC 0-∞ tăng từ 737,4 (± 260,8) ng x giờ/ml ở bệnh nhân chức năng thận bình thường (độ lọc cầu thận: > 80 ml/phút/1,73 m 2 ) lên 967,4 (± 140,2) ng x giờ/ml ở bệnh nhân suy thận nhẹ (độ lọc cầu thận: 50 - 80 ml/phút/1,73 m 2 ); 1384,2 (± 263,23) ng x giờ/ml ở bệnh nhân suy thận trung bình (độ lọc cầu thận: 30 - <50 ml/phút/1,73 m 2 ); và 1708,5 (±699,0) ng x giờ/ml ở bệnh nhân suy thận nặng (độ lọc cầu thận: < 30 ml/phút/1,73 m 2 ). Giá trị trung bình (± SD) thời gian bán thải của bilastine là 9,3 giờ (± 2,8) ở các bệnh nhân chức năng thận bình thường; 15,1 giờ (± 7,7) ở bệnh nhân suy thận nhẹ: 10,5 giờ (± 2,3) ở bệnh nhân suy thận trung bình và 18,4 giờ (± 11,4) ở bệnh nhân suy thận nặng. Quá trình bài xuất qua nước tiểu gần như được hoàn tất sau 48 – 72 giờ trên tất cả các đối tượng. Những thay đổi về dược động học này không cho thấy ảnh hưởng rõ rệt trên lâm sàng đến độ an toàn của bilastine, do nồng độ thuốc trong huyết tương trong trường hợp bệnh nhân suy thận vẫn nằm trong khoảng điều trị. Bệnh nhân suy gan: Không có dữ liệu về dược động học trên bệnh nhân suy gan. Ở người, bilastine không bị chuyển hóa. Do kết quả trong những nghiên cứu trên bệnh nhân suy thận cho thấy thải trừ qua thận là đường thải trừ chính, quá trình bài xuất qua mật chỉ đóng góp một phần rất nhỏ vào sự thải trừ của bilastine. Sự thay đổi chức năng gan dự kiến không làm thay đổi đáng kể dược động học của bilastine trên lâm sàng. Người cao tuổi: Có rất ít dữ liệu về việc sử dụng thuốc cho người trên 65 tuổi. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê nào được ghi nhận giữa đặc tính dược động học của bilastine trên người cao tuổi so với người trưởng thành trong độ tuổi 18 – 35 tuổi. Trẻ em: Không có dữ liệu dược động học ở trẻ vị thành niên (12 - 17 tuổi) vì ngoại suy số liệu từ dữ liệu người lớn được xem là phù hợp đối với sản phẩm bilastine 20 mg.

Thành phần

Bilastine 20mg

Cách dùng

Cách dùng Thuốc chống dị ứng Menida được dùng đường uống. Uống thuốc vào lúc đói, thời điểm 1 giờ trước hoặc 2 giờ sau khi ăn thực phẩm hay uống nước trái cây. Thuốc được uống cùng với nước, nên uống toàn bộ liều 1 lần duy nhất trong ngày. Liều dùng Liều khuyến cáo: Người lớn và trẻ em trên 12 tuổi: Liều dùng 20 mg (1 viên) một lần/ngày để điều trị triệu chứng viêm mũi dị ứng (quanh năm hoặc theo mùa) và mày đay. Thời gian điều trị: Trong điều trị viêm mũi dị ứng, việc điều trị nên được giới hạn trong khoảng thời gian có tiếp xúc với yếu tố dị nguyên. Đối với viêm mũi dị ứng theo mùa, có thể ngừng thuốc khi hết triệu chứng và sử dụng tiếp khi triệu chứng xuất hiện trở lại. Đối với viêm mũi dị ứng quanh năm, nên sử dụng thuốc liên tục trong suốt thời gian tiếp xúc với dị nguyên. Trong điều trị mày đay, thời gian điều trị phụ thuộc vào dạng mày đay, thời gian và diễn biến của triệu chứng. Đối tượng đặc biệt: Người cao tuổi: Không cần điều chỉnh liều ở người cao tuổi. Bệnh nhân suy thận: Các nghiên cứu được thực hiện ở nhóm người trưởng thành có nguy cơ đặc biệt (bệnh nhân suy giảm chức năng) cho thấy không cần thiết phải điều chỉnh liều trên bệnh nhân suy thận. Bệnh nhân suy gan: Chưa có dữ liệu lâm sàng về việc dùng thuốc trên bệnh nhân suy gan. Tuy nhiên, do bilastine không được chuyển hóa và được thải trừ dưới dạng không đổi trong nước tiểu và phân, tình trạng suy gan dự kiến không làm tăng nồng độ thuốc trong máu vượt qua giới hạn an toàn ở bệnh nhân trưởng thành. Do đó, không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân trưởng thành bị suy gan . Trẻ em dưới 12 tuổi: Thông tin về độ an toàn và hiệu quả của bilastine trên trẻ em dưới 12 tuổi chưa được nghiên cứu đầy đủ. Lưu ý: Liều dùng trên chỉ mang tính chất tham khảo. Liều dùng cụ thể tùy thuộc vào thể trạng và mức độ diễn tiến của bệnh. Để có liều dùng phù hợp, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên viên y tế. Làm gì khi dùng quá liều? Thông tin liên quan đến các trường hợp quá liều cấp tính của bilastine 20 mg được lấy từ kết quả thử nghiệm lâm sàng trong giai đoạn phát triển thuốc và giám sát sau khi lưu hành. Trong các thử nghiệm lâm sàng, sau khi dùng bilastine với liều cao gấp 10 đến 11 lần liều điều trị (220 mg liều đơn hoặc 200 mg/ngày trong 7 ngày) trên 26 người tình nguyện khỏe mạnh, tần suất xuất hiện tác dụng không mong muốn cao gấp 2 lần so với giả dược. Tác dụng không mong muốn được ghi nhận nhiều nhất là chóng mặt , nhức đầu và buồn nôn. Không ghi nhận phản ứng bất lợi nghiêm trọng nào cũng như sự kéo dài đáng kể khoảng QT trên điện tâm đồ. Thông tin được thu thập trong giám sát sau khi lưu hành phù hợp với báo cáo trong các thử nghiệm lâm sàng. Một nghiên cứu chéo thông qua thông số QT/QT hiệu chỉnh đã được tiến hành trên 30 người tình nguyện khỏe mạnh nhằm đánh giá tác động của bilastine liều lặp lại (100 mg x 4 ngày) lên sự tái phân cực tâm thất. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng chế độ dùng nêu trên không làm kéo dài đáng kể giá trị QT hiệu chỉnh. Không có dữ liệu quá liều ở trẻ em. Trong trường hợp quá liều, cần áp dụng các biện pháp điều trị triệu chứng và điều trị hỗ trợ. Chưa có thuốc đối kháng đặc hiệu cho bilastine. Trong trường hợp khẩn cấp, hãy gọi ngay cho Trung tâm cấp cứu 115 hoặc đến trạm Y tế địa phương gần nhất. Làm gì khi quên 1 liều? Bổ sung liều ngay khi nhớ ra. Tuy nhiên, nếu thời gian giãn cách với liều tiếp theo quá ngắn thì bỏ qua liều đã quên và tiếp tục lịch dùng thuốc. Không dùng liều gấp đôi để bù cho liều đã bị bỏ lỡ.

Dữ liệu được ghi nhận vào 2026-08-28T04:04:51.422Z. Dược Hub cung cấp thông tin tham khảo, không bán thuốc trực tuyến và không thay thế tư vấn của bác sĩ hoặc dược sĩ. Giá thuốc và tồn kho không được công bố tại URL này.