Thuốc Olanzap 5mg Savi điều trị bệnh tâm thần phân liệt (3 vỉ x 10 viên)
Thuốc Olanzap 5 là thuốc chống loạn thần, giúp ổn định các rối loạn tâm thần bằng cách tác động lên nhiều hệ receptor. Thuốc được chỉ định trong điều trị tâm thần phân liệt, các giai đoạn hưng cảm và dự phòng tái phát rối loạn lưỡng cực.
- Thương hiệu
- Savi
- Phân loại
- Thuốc kê đơn
- Số đăng ký
- 893110294923
- Quy cách/đơn vị
- Hộp
- Nhà sản xuất
- CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC PHẨM SAVI
Công dụng / chỉ định
Chỉ định Olanzapin được chỉ định trong điều trị bệnh tâm thần phân liệt. Olanzapin có hiệu quả để duy trì cải thiện tình trạng lâm sàng khi tiếp tục điều trị bằng olanzapin ở những người bệnh đã có đáp ứng với lần điều trị đầu tiên. Olanzapin được chỉ định trong điều trị giai đoạn hưng cảm mức độ trung bình và nặng. Ở những bệnh nhân có giai đoạn hưng cảm đáp ứng tốt với điều trị bằng olanzapin thì thuốc còn được chỉ định để dự phòng tái phát trên bệnh nhân có rối loạn lưỡng cực. Dược lực học Nhóm dược lý: Thuốc chống loạn thần Mã ATC: N05AH03 Olanzapin là thuốc chống loạn thần có tác động lên một số hệ receptor. Trong các nghiên cứu tiền lâm sàng olanzapin có ái lực (Ki; < 100 nM) với các thụ thể của serotonin 5HT2A/2C, 5HT3, 5HT6; dopamin D₁, D₂, D₃, D₄, D₅; muscarin M₁-M₅; adrenergic α₁ và histamin H₁. Các nghiên cứu về hành vi động vật cho thấy olanzapin có tác dụng đối kháng với 5HT, với dopamin và kháng cholinergic phù hợp với khả năng gắn kết vào các thụ thể. Olanzapin có ái lực mạnh hơn với thụ thể 5HT₂ của serotonin in vitro so với D₂ và hoạt tính 5HT₂ in vivo mạnh hơn so với hoạt tính D₂. Các nghiên cứu điện sinh lý đã chứng minh olanzapin gây giảm một cách chọn lọc sự kích hoạt các tế bào thần kinh dopaminergic ở mesolimbic (A₁₀) và ít có tác dụng đến thể vân (A₉) trong chức năng vận động. Olanzapin làm giảm đáp ứng né tránh có điều kiện, là một thử nghiệm xác định tác dụng chống loạn thần khi dùng liều thấp hơn liều gây ra chứng giữ nguyên thế, là một tác dụng phụ trên chức năng vận động. Không giống như một số thuốc chống loạn thần khác, olanzapin gây tăng đáp ứng trong thử nghiệm “làm giảm lo âu”. Dược động học Hấp thu Olanzapin hấp thu tốt qua đường tiêu hóa, đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương trong vòng 5 - 8 giờ. Thức ăn không ảnh hưởng đến sự hấp thu. Chưa xác định sinh khả dụng tuyệt đối đường uống so với đường dùng tĩnh mạch. Nồng độ olanzapin trong huyết tương là tuyến tính và tỷ lệ với liều dùng trong các thử nghiệm nghiên cứu có liều dùng từ 1 mg đến 20 mg. Phân bố Olanzapin phân bố nhanh và nhiều vào các mô, trong đó có thần kinh trung ương. Thể tích phân bố khoảng 1000 lít. Khoảng 93% olanzapin gắn kết với protein huyết tương khi nồng độ từ 7 đến 1000 ng/ml. Olanzapin gắn kết chủ yếu với albumin và acid α₁-glycoprotein. Chuyển hóa Olanzapin được chuyển hóa ở gan chủ yếu thông qua CYP1A2, một phần nhỏ thông qua CYP2D6 sau đó được liên hợp với acid glucuronic. Hai chất chuyển hóa chính là 10-N-glucuronid và 4'-N-demethyl olanzapin. Cả hai chất chuyển hóa này đều có hoạt tính dược lý in vivo thấp hơn nhiều so với olanzapin trong các nghiên cứu trên động vật. Tác dụng dược lý chủ yếu là do chất olanzapin. Thải trừ Sau khi dùng đường uống, thời gian bán thải trung bình ở người khoẻ mạnh thay đổi phụ thuộc vào tuổi và giới tính. Ở người khoẻ mạnh, khidùng đường uống, thời gian bán thải trung bình là 33 giờ và độ thanh thải trung bình của olanzapin là 26 lít/giờ. Khoảng 57% và 30% lượng thuốc đào thải tương ứng vào nước tiểu và phân, chủ yếu dưới dạng các dẫn chất chuyển hóa, một phần nhỏ (7%) dưới dạng nguyên vẹn. Ở người cao tuổi (65 tuổi trở lên), thời gian bán thải trung bình kéo dài hơn (51,8 giờ so với 33,8 giờ) và độ thanh thải giảm đi (17,5 lít/giờ so với 18,2 lít/giờ). Các thay đổi dược động học ở người cao tuổi vẫn nằm trong phạm vi thay đổi của người trẻ tuổi. Ở 44 bệnh nhân tâm thần phân liệt trên 65 tuổi, liều dùng từ 5 - 20 mg/ngày không có sự khác biệt nào về tác dụng không mong muốn. Ở nữ giới, thời gian bán thải trung bình kéo dài hơn (36,7 giờ so với 32,3 giờ) và độ thanh thải giảm đi (18,9 lít/giờ so với 27,3 lít/giờ). Tuy nhiên độ an toàn của olanzapin (5-20 mg) tương đương nhau ở bệnh nhân nữ (n = 467) và nam (n = 869). Ở người suy thận (độ thanh thải creatinin < 10 ml/phút), không có sự khác nhau đáng kể về thời gian bán thải trung bình (37,7 giờ so với 32,4 giờ) và độ thanh thải (21,2 lít/giờ so với 25,0 lít/giờ). Khoảng 57% olanzapin được đánh dấu bằng chất phóng xạ được đào thải qua nước tiểu chủ yếu dưới dạng chất chuyển hóa. Ở người hút thuốc lá có rối loạn nhẹ chức năng gan, thời gian bán thải trung bình (39,3 giờ) kéo dài hơn và độ thanh thải (18,0 lít/giờ) giảm tương tự như đối với người khoẻ mạnh không hút thuốc lá (tương ứng là 48,8 giờ và 14,1 lít/giờ).
Thành phần
Olanzapin 5mg
Cách dùng
Cách dùng Thuốc Olanzap 5 dùng đường uống. Sử dụng trong hoặc cách xa bữa ăn. Đặt thuốc trên lưỡi cho đến khi thuốc rã hết trước khi nuốt, có thể dùng thêm nước hoặc không. Nên sử dụng thuốc ngay sau khi lấy ra khỏi vỉ. Liều dùng Thuốc này chỉ dùng theo sự kê đơn của bác sĩ Người lớn Tâm thần phân liệt: Liều khởi đầu khuyến cáo là 10 mg/ngày. Giai đoạn hưng cảm: Liều khởi đầu là 15 mg/ngày trong đơn trị liệu hoặc 10 mg/ngày trong điều trị phối hợp. Dự phòng tái phát rối loạn lưỡng cực: Liều khởi đầu khuyến cáo là 10 mg/ngày. Ở những bệnh nhân đã từng dùng olanzapin để điều trị giai đoạn hưng cảm thì tiếp tục giữ nguyên liều cũ khi dự phòng tái phát rối loạn lưỡng cực. Nếu xuất hiện cơn hưng cảm, trầm cảm hay hỗn hợp, nên tiếp tục điều trị với olanzapin (điều chỉnh liều nếu cần thiết) kèm theo các liệu pháp hỗ trợ khác để cải thiện tình trạng bệnh nhân. Trong điều trị rối loạn lưỡng cực, giai đoạn hưng cảm hay dự phòng tái phát rối loạn lưỡng cực, dựa vào tình trạng lâm sàng, có thể thay đổi liều dùng từ 5-20 mg/ngày. Việc tăng liều cao hơn liều khởi đầu khuyến cáo chỉ nên được thực hiện sau khi đã đánh giá lâm sàng phù hợp và được tiến hành không ít hơn 24 giờ. Khi quyết định ngừng sử dụng olanzapin nên xem xét giảm liều từ từ. Trẻ em Không khuyến cáo dùng olanzapin ở trẻ em dưới 18 tuổi do thiếu dữ liệu về an toàn và hiệu quả. Một số nghiên cứu ngắn hạn cho thấy, tăng cân, tăng lipid và thay đổi prolactin đã được báo cáo ở bệnh nhân vị thành niên với tỷ lệ lớn hơn so với người lớn. Người cao tuổi Không cần giảm liều đối với người cao tuổi, nhưng cần cân nhắc dùng liều thấp hơn (5 mg/ngày) đối với người bệnh hơn 65 tuổi hoặc khi có kèm các yếu tố lâm sàng không thuận lợi. Bệnh nhân suy thận và/hoặc suy gan Nên giảm liều ở bệnh nhân suy gan, suy thận. Trong trường hợp suy gan trung bình (xơ gan, Child-Pugh loại A hoặc B), nên dùng liều khởi đầu là 5 mg và thận trọng khi tăng liều. Người bệnh không hút thuốc so với người có hút thuốc Không khác nhau về liều khởi đầu và phạm vi liều điều trị thông thường. Hút thuốc có thể làm giảm chuyển hóa olanzapin, có thể xem xét tăng liều trong trường hợp này và cần theo dõi trên lâm sàng. Khi có nhiều hơn một yếu tố làm chậm quá trình chuyển hóa của olanzapin (giới tính, tuổi, không hút thuốc,...) nên cân nhắc để dùng liều khởi đầu thấp hơn. Nên thận trọng khi tăng liều ở những bệnh nhân này. Xử trí quá liều Triệu chứng Kinh nghiệm quá liều olanzapin còn hạn chế. Ở bệnh nhân dùng liều cao nhất được phát hiện là 300 mg có triệu chứng chóng mặt và nói lịu. Với số lượng bệnh nhân hạn chế được đánh giá tại bệnh viện, kể cả bệnh nhân dùng 300 mg, không thấy có các dấu hiệu có hại ở các xét nghiệm và điện tâm đồ. Các dấu hiệu sinh tồn vẫn trong mức giới hạn bình thường ở những bệnh nhân dùng quá liều. Dựa vào các dữ liệu trên động vật, các triệu chứng quá liều là các triệu chứng của sự tăng quá mức những tác dụng dược lý đã biết của thuốc; bao gồm: buồn ngủ, giãn đồng tử, mắt mờ, ức chế hô hấp, hạ huyết áp và có thể có các rối loạn ngoại tháp. Xử trí Không có thuốc giải độc đặc hiệu cho olanzapin. Vì vậy cần bắt đầu với các biện pháp điều trị hỗ trợ thích hợp. Cần xem xét khả năng quá liều của nhiều loại thuốc khác nhau. Trong trường hợp ngộ độc cấp tính, cần thiết lập và giữ thông đường hô hấp, đảm bảo quá trình oxy hóa và thông khí đầy đủ. Nên xem xét dùng than hoạt, vì chúng làm giảm sinh khả dụng của olanzapin dùng đường uống từ 50% - 60%. Nếu cần, nên rửa dạ dày (sau khi đặt ống thông vào khí quản, nếu bệnh nhân hôn mê). Thẩm phân lọc máu không tách bỏ được nhiều olanzapin. Hạ huyếp áp và trụy mạch nên điều trị bằng các biện pháp thích hợp như truyền dịch và/hoặc thuốc kích thích giao cảm như norepinephrin (không dùng epinephrin, dopamin hoặc các chất kích thích giao cảm khác có hoạt tính chủ vận beta, vì kích thích beta có thể làm nặng thêm tình trạng hạ huyết áp trong trường hợp thụ thể alpha bị phong bế do olanzapin). Cần theo dõi tim mạch để phát hiện những chứng loạn nhịp tim. Tiếp tục theo dõi kỹ cho đến khi người bệnh hồi phục. Quên liều Không dùng gấp đôi liều bỏ lỡ. Mọi thông tin chỉ mang tính chất tham khảo. Việc sử dụng thuốc phải tuân theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên môn.
Dữ liệu được ghi nhận vào 2026-08-28T04:04:51.422Z. Dược Hub cung cấp thông tin tham khảo, không bán thuốc trực tuyến và không thay thế tư vấn của bác sĩ hoặc dược sĩ. Giá thuốc và tồn kho không được công bố tại URL này.