Thuốc Paclitaxel Ebewe Novartis điều trị ung thư buồng trứng, ung thư vú (16.7ml)
Thuốc Paclitaxel "Ebewe" là dung dịch đậm đặc pha dung dịch tiêm truyền chứa hoạt chất Paclitaxel dùng điều trị ung thư buồng trứng, ung thư vú, ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC), u Sarcom Kaposi ở bệnh nhân AIDS (KS).
- Thương hiệu
- Novartis
- Phân loại
- Thuốc kê đơn
- Số đăng ký
- 900114412523
- Quy cách/đơn vị
- Hộp
- Nhà sản xuất
- Ebewe
Công dụng / chỉ định
Chỉ định Thuốc Paclitaxel "Ebewe" chỉ định điều trị trong các trường hợp sau: Ung thư buồng trứng Trong hóa trị liệu đầu tiên của ung thư buồng trứng , paclitaxel phối hợp với cisplatin được chỉ định điều trị cho bệnh nhân ung thư buồng trứng tiến triển hoặc bướu tồn lưu (>1cm), sau khi đã phẫu thuật. Hóa trị thứ hai ung thư biểu mô di căn của buồng trứng sau khi dùng platinum chuẩn không có kết quả. Ung thư vú Trong điều trị hỗ trợ ung thư vú, paclitaxel được chỉ định điều trị ung thư biểu mô di căn ở vú có hạch dương tính sau phác đồ dùng anthracyclin và cyclophosphamid (AC). Liệu pháp điều trị hỗ trợ bằng paclitaxel nên được coi là một lựa chọn để mở rộng phác đồ điều trị bằng anthracyclin. Paclitaxel được chỉ định trong điều trị ban đầu cho ung thư vú di căn hoặc tiến triển cục bộ trong phối hợp với 1 anthracyclin cho bệnh nhân phù hợp với liệu pháp anthracyclin hoặc phối hợp với trastuzumab cho bệnh nhân biểu hiện quá mức HER-2 ở mức độ 3+ xác định bằng hóa mô miễn dịch và cho các bệnh nhân không phù hợp với liệu pháp anthracyclin. Trong đơn trị liệu, paclitaxel được chỉ định trong điều trị ung thư biểu mô di căn ở vú cho bệnh nhân đã thất bại hoặc không phù hợp với liệu pháp anthracyclin. Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC) Paclitaxel phối hợp với cisplatin được chỉ định trong điều trị ung thư biểu mô phổi không phải tế bào nhỏ ở bệnh nhân không thể phẫu thuật và/hoặc không chiếu tia được. U Sarcom Kaposi ở bệnh nhân AIDS (KS) Paclitaxel được chỉ định điều trị cho bệnh nhân AIDS bị u Sarcom Kaposi tiến triển thất bại trong liệu pháp anthracyclin dạng liposom trước đó. Dược lực học Nhóm dược lý - điều trị mã ATC: L01CD01. Paclitaxel là thuốc mới chống vi ống, tập hợp được các vi ống từ ống nhị phân tử và ổn định các vi ống do ngăn cản quá trình giải trùng hợp. Sự ổn định này ức chế sự tổ chức lại bình thường của lưới vi ống, là điều cốt yếu cho pha nghỉ (gian kỳ) của quá trình phân bào giảm nhiễm và hoạt động của ty lạp thể. Hơn nữa, paclitaxel cũng thúc đẩy hình thành các cấu trúc bất thường của các bó vi ống trong suốt chu kỳ của tế bào, và vô số các thể sao của vi ống trong thời kỳ gián phân. Trong hóa trị liệu điều trị ung thư buồng trứng, hiệu quả và độ an toàn của paclitaxel được đánh giá trong 2 thử nghiệm chính, có đối chứng, ngẫu nhiên (so với cyclophosphamid 750 mg/m 2 , cisplatin 75 mg/m 2 ). Trong thử nghiệm giữa các nhóm (B-MS CA 139-209), trên 650 bệnh nhân ung thư buồng trứng nguyên phát giai đoạn IIb-c, III hoặc IV được điều trị tối đa 9 đợt paclitaxel (175 mg/m 2 trong 3 giờ) sau đó dùng cisplatin (75 mg/m 2 ) hoặc giả dược. Thử nghiệm chính thứ 2 (GOG-111/BMS CA139-022) đã đánh giá trên tối đa 6 đợt điều trị paclitaxel (135 mg/m 2 trong 24 giờ) sau đó cisplatin (75 mg/m 2 ) hoặc giả dược trên hơn 400 bệnh nhân ung thư buồng trứng nguyên phát giai đoạn III/IV, với kích thước khối u > 1cm sau khi giải phẫu bụng hoặc di căn xa. Trong khi 2 cách dùng paclitaxel khác nhau không so sánh trực tiếp được với nhau thì trong cả 2 thử nghiệm bệnh nhân điều trị paclitaxel phối hợp với cisplatin có tỉ lệ đáp ứng cao hơn rõ rệt, thời gian để bệnh tiến triển kéo dài hơn, thời gian sống sót lâu hơn khi so sánh với liệu pháp tiêu chuẩn. Trên các bệnh nhân ung thư buồng trứng tiến triển được truyền tĩnh mạch paclitaxel trong 3 giờ sau đó là cisplatin cho thấy tăng độc tính thần kinh, đau cơ/ đau khớp nhưng lại giảm suy tủy so với bệnh nhân được điều trị cyclophosphamid/cisplatin. Trong điều trị hỗ trợ ung thư vú, 3121 bệnh nhân ung thư vú có hạch dương tính được điều trị hỗ trợ bằng paclitaxel hoặc không điều trị hóa trị liệu sau 4 đợt điều trị doxorubicin và cyclophosphamid (CALGB 9344, BMS CA 139-223). Thời gian theo dõi trung bình là 69 tháng. Nhìn chung, các bệnh nhân điều trị bằng paclitaxel giảm rõ rệt 18% nguy cơ tái phát bệnh (p=0,0014) và giảm rõ rệt 19% nguy cơ tử vong (p=0,0044) so với các bệnh nhân điều trị AC đơn độc. Các phân tích hồi cứu chỉ ra lợi ích cho tất cả các nhóm bệnh nhân. Các bệnh nhân có khối u chưa xác định hoặc không có thụ thể hormon, nguy cơ tái phát bệnh giảm 28% (95% CI: 0,59-0,86). Trong phân nhóm bệnh nhân có thụ thể hormon, nguy cơ tái phát bệnh giảm 9% (95% CI: 0,78-1,07). Tuy nhiên, thiết kế nghiên cứu không điều tra tác dụng của liệu pháp AC mở rộng quá 4 đợt điều trị. Không thể loại trừ khả năng những tác dụng quan sát được có thể một phần là do sự khác biệt về khoảng thời gian điều trị hóa trị giữa 2 nhóm (AC 4 đợt điều trị; AC + paclitaxel 8 đợt). Vì vậy, điều trị hỗ trợ bằng paclitaxel nên được coi là một lựa chọn đối với liệu pháp AC mở rộng. Trong một nghiên cứu lâm sàng lớn thứ 2 trong hỗ trợ điều trị ung thư vú có hạch dương tính với một thiết kế tương tự, 3060 bệnh nhân được lựa chọn ngẫu nhiên để điều trị bằng 4 đợt điều trị AC (NSABP B-28, BMS CA139-270) và sau đó có hoặc không điều trị paclitaxel với mức liều cao hơn là 225 mg/m 2 . Thời gian theo dõi trung bình là 64 tháng, các bệnh nhân dùng có điều trị bổ sung paclitaxel giảm rõ rệt 17% nguy cơ tái phát bệnh so với nhóm bệnh nhân chỉ điều trị bằng AC (p=0,006); nhóm bệnh nhân được điều trị bổ sung paclitaxel làm nguy cơ tử vong giảm xuống 7% (95% CI: 0,78-1,12). Tất cả các phân tích đều thiên về hướng có lợi cho nhóm bệnh nhân dùng paclitaxel. Trong nghiên cứu này, các bệnh nhân có khối u có thụ thể hormon giảm nguy cơ tái phát bệnh xuống 23% (95% CI: 0,6-0,92); trong phân nhóm bệnh nhân có khối u không có thụ thể hormon nguy cơ tái phát bệnh giảm 10% (95% CI: 0,7-1,11). Trong điều trị ban đầu ung thư vú di căn, hiệu quả và độ an toàn của paclitaxel được đánh giá trong 2 thử nghiệm then chốt có đối chứng, ngẫu nhiên, pha III. Trong nghiên cứu đầu tiên (BMS CA139-278), phác đồ phối hợp điều trị bằng tiêm nhanh doxorubicin (50mg/m 2 ) cách 24 giờ và truyền tiếp paclitaxel (220 mg/m 2 truyền tĩnh mạch trong 3 giờ) (AT), được so sánh với điều trị chuẩn FAC (5-FU 500 mg/m 2 , doxorubicin 50 mg/m 2 , cyclophosphamid 500 mg/m 2 ), cả 2 chế độ đều được áp dụng 3 tuần 1 lần cho 8 đợt điều trị. Trong thử nghiệm ngẫu nhiên này, 267 bệnh nhân bị ung thư vú di căn không điều trị hóa trị liệu trước đó hoặc chỉ điều trị hóa trị liệu không anthracyclin trong liệu pháp bổ trợ được tham gia nghiên cứu. Các kết quả cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa về thời gian bệnh tiến triển của bệnh nhân điều trị AT so với bệnh nhân điều trị FAC (8,2 so với 6,2 tháng; p=0,029). Thời gian sống trung bình thiên về nhóm paclitaxel/doxorubicin so với nhóm dùng FAC (23,0 so với 18,3 tháng; p=0,004). 44% bệnh nhân trong nhóm AT và 48% bệnh nhân nhóm FAC được hóa trị liệu lần hai, 7% trong số họ (nhóm AT) và 50% (nhóm FAC) được điều trị với taxan. Tỉ lệ đáp ứng chung cao hơn rõ rệt ở nhóm AT so với nhóm FAC (68% so với 55%). Tỉ lệ đáp ứng chung là 19% bệnh nhân trong nhóm paclitaxel/doxorubicin so với 8% trong nhóm FAC. Tất cả các kết quả về hiệu quả của thuốc sau đó đã được khẳng định trong một đánh giá tổng hợp độc lập và mù. Trong nghiên cứu chính thứ 2, về hiệu quả và độ an toàn của paclitaxel khi phối hợp với trastuzumab được xác định trong khi phân tách các phân nhóm của nghiên cứu HO648g (bệnh nhân ung thư vú di căn điều trị hỗ trợ bằng anthracyclin). Tác dụng của trastuzumab trong phối hợp với paclitaxel ở bệnh nhân không điều trị hỗ trợ bằng anthracyclin trước đó vẫn chưa được chứng minh. Sự phối hợp trastuzumab (4 mg/kg liều đầu sau đó 2 mg/kg mỗi tuần) và paclitaxel (175 mg/m 2 ) truyền tĩnh mạch trong 3 giờ, 3 tuần 1 lần so với paclitaxel đơn trị liệu (175 mg/m 2 ) truyền tĩnh mạch trong 3 giờ, 3 tuần 1 lần trên 188 bệnh nhân ung thư vú di căn biểu hiện quá mức HER2 (2+ hoặc 3+ xác định bằng hóa mô miễn dịch) trước đó đã được điều trị bằng anthracyclin. Paclitaxel được điều trị 3 tuần 1 lần cho ít nhất 6 đợt điều trị trong khi trastuzumab được truyền tĩnh mạch hàng tuần cho đến khi bệnh tiến triển. Nghiên cứu cho thấy lợi ích rõ rệt của việc phối hợp paclitaxel/trastuzumab về thời gian bệnh tiến triển (6,9 so với 3,0 tháng), tỉ lệ đáp ứng (41% so với 17%), và khoảng thời gian đáp ứng (10,5 so với 4,5 tháng) khi so sánh với paclitaxel đơn trị liệu. Độc tính có ý nghĩa nhất quan sát được từ sự phối hợp paclitaxel/trastuzumab là rối loạn chức năng tim. Trong điều trị NSCLC tiến triển, liều paclitaxel 175 mg/m 2 sau đó là cisplatin 80 mg/m 2 đã được đánh giá trong 2 thử nghiệm pha III (367 bệnh nhân điều trị bằng paclitaxel). Cả 2 thử nghiệm đều ngẫu nhiên, một so sánh với điều trị bằng cisplatin 100 mg/m 2 , một sử dụng teniposid 100 mg/m 2 sau đó cisplatin 80 mg/m 2 với chất đối chứng (367 bệnh nhân nhóm so sánh). Các kết quả trong mỗi thử nghiệm là tương tự. Đối với kết quả chính trên lâm sàng về tử vong, cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa chế độ điều trị có paclitaxel và chất đối chứng (thời gian sống trung bình 8,1 và 9,5 tháng đối với điều trị bằng paclitaxel, 8,6 và 9,9 tháng đối với các chất đối chứng). Tương tự, về thời gian sống không có tiến triển bệnh, cho thấy không có sự khác biệt giữa các nhóm điều trị. Tỉ lệ đáp ứng trên lâm sàng tốt hơn trên nhóm được điều trị với paclitaxel. Các kết quả về cải thiện chất lượng cuộc sống thể hiện thông qua chứng chán ăn cũng cho thấy lợi ích của việc điều trị bằng paclitaxel. Hơn nữa, cũng có những bằng chứng rõ ràng của việc điều trị bằng paclitaxel về bệnh thần kinh ngoại vi (p< 0,008). Trong điều trị Kaposi Sarcoma ở bệnh nhân AIDS, hiệu quả và độ an toàn của paclitaxel đã được đánh giá trong một nghiên cứu không so sánh trên bệnh nhân Kaposi Sarcoma tiến triển đã điều trị hóa trị liệu trước đó. Chỉ tiêu đánh giá lâm sàng chính là đáp ứng của khối u sau điều trị. Trong số 107 bệnh nhân, 63 được xem là đề kháng với anthracyclin liposom. Phân nhóm này được coi là nhóm trung tâm để đánh giá hiệu quả điều trị. Tỉ lệ thành công chung (đáp ứng toàn bộ/cục bộ) sau 15 đợt điều trị là 57% (CI 44-70%) ở các bệnh nhân đề kháng với anthracyclin liposom. Trên 50% đáp ứng rõ rệt sau 3 đợt điều trị đầu tiên. Ở các bệnh nhân đề kháng anthracyclin liposom, tỉ lệ đáp ứng có thể so sánh được giữa các bệnh nhân không điều trị bằng chất ức chế protease (55,6%) so với bệnh nhân được điều trị bằng chất ức chế protease ít nhất trong 2 tháng trước khi điều trị paclitaxel (60,9%). Khoảng thời gian trung bình để bệnh tiến triển trong nhóm quần thể trung tâm là 468 ngày (95% CI 257-NE). Thời gian sống sót trung bình chưa tính toán được nhưng là 617 ngày với tỉ lệ thấp hơn 95% trong nhóm bệnh nhân trung tâm. Dược động học Khi truyền tĩnh mạch, nồng độ thuốc trong huyết tương tỷ lệ thuận với liều truyền vào tĩnh mạch và giảm theo đồ thị có 2 pha. Động học của paclitaxel được xác định trong điều kiện truyền tĩnh mach với thời gian 3 giờ và 24 giờ với các liều 135 và 175 mg/m 2 . Thời gian bán thải trung bình của pha cuối từ 3,0-52,7 giờ, còn giá trị trung bình của độ thanh thải toàn thân không phụ thuộc các khoảng là 11,6 đến 24,0 lít/giờ/m 2 độ thanh thải toàn thân sẽ giảm khi nồng độ của paclitaxel trong huyết tương cao. Thể tích phân bố trung bình ở trạng thái ổn định là 198-688 lít/m 2 , chứng tỏ có sự phân bố rộng rãi ở ngoài mạch máu và/hoặc gắn mạnh vào mô. Nếu truyền 3 giờ và tăng liều paclitaxel thì việc tăng liều không có liên quan tuyến tính với việc tăng các thông số dược động học. Nếu tăng 30% liều, từ 135 mg/m 2 lên 175 mg/m 2 , thì Cmax tăng 75% giá trị AUC 0-∞ sẽ tăng 81%. Sau khi truyền tĩnh mạch liều 100 mg/m 2 trong 3 giờ trên 19 bệnh nhân KS, Cmax trung bình là 1530 ng/ml (khoảng biến thiên 761–2860 ng/ml) và AUC trung bình 5619 ng.h/ml (khoảng biến thiên 2609 – 9428 ng.h/ml). Độ thanh thải là 20,6 l/h/m 2 (biến thiên 11-38) và thể tích phân phối là 291 l/m 2 (khoảng biến thiên 121-638). Thời gian bán thải trung bình của pha cuối là 23,7 giờ (biến thiên 12-33 giờ). Rất ít có thay đổi giữa các cá thể về sự phân bố paclitaxel trong toàn cơ thể. Chưa có chứng cớ về tích lũy paclitaxel khi dùng nhiều đợt điều trị. Nghiên cứu in vitro cho thấy thuốc gắn 89-98% vào protein – huyết thanh người. Sự có mặt của cimetidin, ranitidin, dexamethason hoặc diphenhydramin không có ảnh hưởng tới sự gắn kết của paclitaxel vào protein. Sự phân bố của paclitaxel trên người chưa được sáng tỏ. Giá trị trung bình về tổng lượng paclitaxel thải qua nước tiểu chỉ là 1,3-12,6% của liều dùng, chứng tỏ có sự thanh thải đáng kể không qua thận. Chuyển hóa qua gan và đào thải qua mật có thể là cơ chế chủ yếu của việc đào thải của paclitaxel. Paclitaxel chuyển hóa chủ yếu qua gan nhờ xúc tác của các enzym cytocrom P450. Khi truyền paclitaxel đánh dấu, thấy trung bình chất đánh dấu thải qua phân là các chất chuyển hóa sau: 26% 6-alpha-hydroxy-paclitaxel, 2% là 3′-p-dihydroxy- paclitaxel, còn 6% là 6-alpha-3′-p-dihydroxy paclitaxel. Sự chuyển hóa để cho ra các chất chuyển hóa hydroxy này được xúc tác nhờ CYP2C8, CYP3A4 hoặc nhờ cả 2 enzym này. Chưa xác định được ảnh hưởng của suy chức năng gan thận tới phân bố của paclitaxel khi truyền 3 giờ. Những thông số dược động học đạt được từ một bệnh nhân qua thẩm tách lọc máu được truyền 3 giờ paclitaxel 135 mg/m 2 là ở trong phạm vi các thông số đã được xác định ở những bệnh nhân không qua thẩm phân. Trong các thử nghiệm lâm sàng trong đó paclitaxel và doxorubicin điều trị đồng thời, phân phối và thải trừ của doxorubicin và các chất chuyển hóa của thuốc được kéo dài. Tổng nồng độ doxorubicin trong huyết tương khi điều trị paclitaxel ngay sau doxorubicin cao hơn 30% so với khi 2 thuốc điều trị cách nhau 24 giờ. Khi paclitaxel phối hợp điều trị với các liệu pháp khác, đề nghị xem tóm tắt đặc tính của cisplatin, doxorubicin hoặc trastuzumab để biết thông tin về cách dùng các thuốc này.
Thành phần
Paclitaxel 6mg
Cách dùng
Cách dùng Thao tác dùng thuốc Như tất cả các thuốc chống ung thư khác, nên thận trọng khi thao tác với paclitaxel. Thuốc chỉ pha trong điều kiện vô khuẩn bởi nhân viên y tế có kinh nghiệm và trong khu vực được thiết kế đặc biệt. Khuyến cáo sử dụng găng tay bảo vệ. Nên thực hiện các biện pháp phòng ngừa để tránh thuốc tiếp xúc với da và niêm mạc. Nếu paclitaxel tiếp xúc với da, cần rửa sạch và kỹ vùng da bị tiếp xúc với thuốc bằng xà phòng và nước. Đã quan sát thấy vùng da sau khi tiếp xúc với thuốc bị ngứa, rát và đỏ. Nếu niêm mạc bị dính paclitaxel, phải rửa kỹ vùng bị tiếp xúc bằng nước. Đã ghi nhận hiện tượng khó thở, đau ngực, nóng rát họng, nôn mửa khi hít phải thuốc. Không nên sử dụng thiết bị Chemo-Dispensing Pin hoặc các thiết bị tương tự có mũi nhọn do có thể làm hỏng nắp cao su của lọ thuốc dẫn đến thuốc không còn được vô trùng. Chuẩn bị dịch truyền Trước khi truyền, phải pha loãng paclitaxel trong điều kiện vô khuẩn với dung dịch natri clorid đẳng trương 0,9% hoặc dung dịch glucose 5% đến nồng độ cuối 0,3 – 1,2mg paclitaxel/ml để làm dịch truyền. Dung dịch được chuẩn bị để truyền cần giữ ổn định ở nhiệt độ phòng trong vòng 27 giờ. Người sử dụng chịu trách nhiệm về thời gian và điều kiện bảo quản. Không bảo quản dung dịch đã được pha loãng trong tủ lạnh. Sau khi chuẩn bị, dung dịch có thể hơi bị đục do dung môi bị cô đặc; không thể lọc được. Dung dịch truyền paclitaxel phải được lọc qua màng xốp (in-line filter) với kích thước lỗ màng < 0,22 microgram. Đã ghi nhận được hiệu lực của thuốc không bị giảm trong một thử nghiệm với hệ thống lọc in-line thích hợp. Mặc dù hiếm ghi nhận được trường hợp kết tủa trong dịch truyền paclitaxel, thường vào cuối 24 giờ truyền. Mặc dù nguyên nhân gây ra kết tủa chưa rõ ràng, có khả năng do mức độ quá bão hòa của dung dịch sau khi pha loãng. Để làm giảm nguy cơ xuất hiện kết tủa, nên dùng paclitaxel sớm nhất có thể sau khi đã pha loãng dung dịch để truyền, nên tránh lắc thuốc quá mạnh. Nguyên nhân n xuất hiện kết tủa chưa rõ ràng, tuy nhiên được giả định rằng hiện tượng này liên quan đến mức độ quá bão hòa của dung dịch được pha loãng. Bộ truyền phải được rửa kỹ trước khi sử dụng. Trong quá trình truyền, nên kiểm tra dịch truyền thường xuyên và nếu có xuất hiện kết tủa nên ngừng truyền. Để hạn chế bệnh nhân phơi nhiễm với DEHP [bis (2-ethylhexyl) phthalat] nhiễm từ túi nhựa PVC đựng dịch truyền, dung dịch đã pha loãng Paclitaxel phải được bảo quản trong các bao bì (thủy tinh, polyethylen) không chứa PVC hoặc làm bằng PVC và thuốc được truyền qua dây bằng polyethylen. Dụng cụ lọc (ví dụ lvex-2) có đầu vào ngắn hoặc đầu ra bằng PVC không làm giải phóng có ý nghĩa DEHP. Xử lý thuốc Paclitaxel không dùng đến và tất cả các dụng cụ được sử dụng để chuẩn bị và truyền paclitaxel hoặc đã tiếp xúc với paclitaxel cần phải được xử lý theo các hướng dẫn quốc gia/địa phương về xử lý các chất độc. Liều dùng Trước khi điều trị paclitaxel, tất cả các bệnh nhân phải dùng trước các thuốc corticosteroid, kháng histamin, và thuốc đối kháng H2,… Thuốc Liều dùng Cách dùng trước khi dùng paclitaxel Dexamethason 20 mg uống* hoặc truyền tĩnh mạch Dùng theo đường uống: Xấp xỉ 12 và 6 giờ hoặc IV: 30 đến 60 phút. Diphenhydramin** 50 mg tiêm tĩnh mạch 30 đến 60 phút Cimetidin hoặc Ranitidin 300 mg truyền tĩnh mạch 50 mg truyền tĩnh mạch 30 đến 60 phút * 8 - 20 mg cho bệnh nhân Sarcom Kaposi. ** hoặc một thuốc kháng histamin tương tự như clorpheniramin. Paclitaxel nên được truyền qua thiết bị lọc có màng vi ống đường kính ≤ 0,22μm. Hóa trị ban đầu cho ung thư buồng trứng Chế độ liều phối hợp paclitaxel và cisplatin được khuyến cáo sử dụng. Theo khoảng thời gian truyền tĩnh mạch, có 2 mức liều paclitaxel được khuyến cáo: Paclitaxel 175 mg/m 2 tiêm truyền trong 3 giờ, tiếp theo đó là cisplatin 75 mg/m 2 3 tuần 1 lần hoặc paclitaxel 135 mg/m 2 tiêm truyền 24 giờ, tiếp theo đó cisplatin 75 mg/m 2 điều trị cách quãng 3 tuần giữa 2 đợt điều trị. Cách phối hợp khác còn đang nghiên cứu. Hóa trị thứ hai cho ung thư buồng trứng Liều khuyến cáo của paclitaxel là 175 mg/m 2 dùng trong 3 giờ, có thời gian cách quãng 3 tuần giữa 2 đợt. Điều trị hỗ trợ trong ung thư vú Liều khuyến cáo của paclitaxel là 175 mg/m 2 dùng trong 3 giờ, 3 tuần 1 đợt trong 4 đợt sau khi điều trị AC. Hóa trị ban đầu cho ung thư vú Khi sử dụng phối hợp với doxorubicin (50 mg/m 2 ), paclitaxel được chỉ định điều trị 24 giờ sau khi dùng doxorubicin. Liều khuyến cáo của paclitaxel là 220 mg/m 2 truyền tĩnh mạch trong 3 giờ, cách quãng 3 tuần giữa các đợt. Khi dùng phối hợp với trastuzumab, liều khuyến cáo của paclitaxel là 175 mg/m 2 truyền tĩnh mạch trong 3 giờ, cách quãng 3 tuần giữa các đợt. Truyền tĩnh mạch paclitaxel có thể bắt đầu từ ngay sau khi dùng trastuzumab liều đầu hoặc ngay sau khi dùng các liều tiếp theo của trastuzumab nếu như liều trước đó của trastuzumab được dung nạp tốt (để biết liều dùng cụ thể của trastuzumab xem tóm tắt đặc tính của trastuzumab). Hóa trị thứ hai của ung thư vú Liều khuyến cáo của paclitaxel là 175 mg/m 2 truyền tĩnh mạch trong 3 giờ với khoảng cách 3 tuần giữa các đợt. Điều trị NSCLC tiến triển Paclitaxel 175 mg/m 2 dùng trong 3 giờ, tiếp theo là cisplatin 80 mg/m 2 ; có thời gian cách quãng 3 tuần lễ giữa 2 đợt. Điều trị sarcom Kaposi ở bệnh nhân AIDS Liều khuyến cáo của paclitaxel là 100 mg/m 2 truyền tĩnh mạch trong 3 giờ, 2 tuần 1 lần. Các liều kế tiếp của paclitaxel nên được chỉ định theo khả năng dung nạp thuốc của các cá nhân. Paclitaxel không nên chỉ định lại cho đến khi lượng bạch cầu trung tính ≥1.500/mm 3 (≥1.000/mm 3 cho bệnh nhân KS) và lượng tiểu cầu >100.000/mm 3 (>75.000/mm 3 cho bệnh nhân KS). Bệnh nhân đã bị giảm bạch cầu trung tính nặng (lượng bạch cầu trung tính <500/mm 3 trong 1 tuần hoặc dài hơn) hoặc bệnh nhân bị thần kinh ngoại vi nặng nên được giảm liều xuống 20% cho các đợt điều trị tiếp theo (25% cho bệnh nhân KS). Bệnh nhân suy gan Chưa có số liệu thỏa đáng về sự thay đổi chế độ liều ở bệnh nhân suy gan mức độ nhẹ đến trung bình. Bệnh nhân bị suy gan nặng không nên điều trị tiếp với paclitaxel. Lưu ý: Liều dùng trên chỉ mang tính chất tham khảo. Liều dùng cụ thể tùy thuộc vào thể trạng và mức độ diễn tiến của bệnh. Để có liều dùng phù hợp, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên viên y tế. Làm gì khi dùng quá liều? Chưa có thuốc giải độc khi dùng quá liều paclitaxel. Trong trường hợp quá liều, bệnh nhân cần được theo dõi chặt chẽ. Điều trị cần được hướng vào các độc tính chính được dự đoán trước, trong đó bao gồm ức chế tủy xương, nhiễm độc thần kinh ngoại vi và viêm niêm mạc. Quá liều ở bệnh nhi có thể được liên quan đến độc tính cấp của ethanol. Trong trường hợp khẩn cấp, hãy gọi ngay cho Trung tâm cấp cứu 115 hoặc đến trạm Y tế địa phương gần nhất. Làm gì khi quên 1 liều? Bổ sung liều ngay khi nhớ ra. Tuy nhiên, nếu thời gian giãn cách với liều tiếp theo quá ngắn thì bỏ qua liều đã quên và tiếp tục lịch dùng thuốc. Không dùng liều gấp đôi để bù cho liều đã bị bỏ lỡ.
Dữ liệu được ghi nhận vào 2026-08-28T04:04:51.422Z. Dược Hub cung cấp thông tin tham khảo, không bán thuốc trực tuyến và không thay thế tư vấn của bác sĩ hoặc dược sĩ. Giá thuốc và tồn kho không được công bố tại URL này.