← Danh mục thuốc

Thông tin sản phẩm tham khảo

Thuốc Pms-Topiramate 25mg Pharmascience điều trị động kinh cục bộ, dự phòng đau nửa đầu (Hộp 100 viên)

Thuốc Pms-Topiramate 25 có thành phần chính là Topiramate, đây là thuốc được chỉ định đơn trị liệu cho người lớn và trẻ em trên 6 tuổi bị động kinh cục bộ có hoặc không kèm động kinh toàn thể thứ phát hoặc cơn co cứng - co giật toàn thể nguyên phát; phối hợp điều trị cho người lớn và trẻ em từ 2 tuổi trở lên bị động kinh khởi phát cục bộ hoặc hội chứng Lennox-Gastaut; đồng thời dùng dự phòng đau nửa đầu ở người lớn sau khi đã đánh giá các biện pháp điều trị khác và không dùng để điều trị cơn đau nửa đầu cấp.

Thương hiệu
Pharmascience
Phân loại
Thuốc kê đơn
Số đăng ký
754110414423
Quy cách/đơn vị
Lọ
Nhà sản xuất
PHARMASCIENCE INC

Công dụng / chỉ định

Chỉ định Thuốc Pms-Topiramate 25 được chỉ định dùng trong các trường hợp sau: Đơn trị liệu cho người lớn và trẻ em trên 6 tuổi trong điều trị động kinh cục bộ có kèm hoặc không kèm động kinh toàn thể thứ phát hoặc cơn động kinh co cứng - co giật toàn thể nguyên phát. Phối hợp trong điều trị cho người lớn và trẻ em từ 2 tuổi trở lên bị cơn động kinh khởi phát cục bộ, có kèm hoặc không kèm động kinh toàn thể thứ phát hoặc cơn động kinh co cứng - co giật toàn thể nguyên phát và trong điều trị cơn động kinh liên quan đến hội chứng Lennox-Gastaut. Pms-Topiramate 25 mg được chỉ định điều trị dự phòng đau nửa đầu ở người lớn sau khi đánh giá kỹ lưỡng các biện pháp điều trị khác. Pms-Topiramate 25 mg không dùng để điều trị cơn đau nửa đầu cấp. Dược lực học Nhóm điều trị dược lý: Nhóm thuốc chống động kinh, thuốc chống động kinh khác. Mã ATC: N03AX11. Topiramat được xếp loại là một monosaccharid được thay thế gốc sulfamat. Cơ chế chính xác giúp topiramat có hiệu quả trong chống co giật và dự phòng đau nửa đầu chưa được biết rõ. Các nghiên cứu sinh hóa và điện sinh lý trên các nơron được nuôi cấy đã xác định ba đặc tính có thể góp phần vào hiệu quả chống động kinh của topiramat. Các điện thế hoạt động được lặp đi lặp lại bởi sự khử cực kéo dài của nơron bị ức chế bởi topiramat theo kiểu lệ thuộc thời gian, dẫn đến tác động chẹn kênh natri tùy thuộc trạng thái. Topiramat làm tăng tần suất mà tại đó các thụ thể GABAA, được hoạt hoá bởi y-aminobutyrat (GABA), và làm tăng khả năng của GABA để tạo ra luồng ion clorid đi vào trong các nơron, từ đó topiramat làm tăng hoạt tính của các chất dẫn truyền thần kinh ức chế. Tác động này không bị ức chế bởi flumazenil, một chất đối kháng với benzodiazepin, và topiramat cũng không làm tăng thời gian mở kênh, khác biệt giữa topiramat và các barbiturat là điều chỉnh thụ thể GABAA. Vì đặc tính chống động kinh của topiramat khác biệt hoàn toàn với tính chất của các benzodiazepin, nên topiramat có thể điều chỉnh một phân nhóm phụ (subtype) của thụ thể GABAA kém nhạy cảm với benzodiazepin. Topiramat làm mất khả năng của kainat gây hoat hóa kainat/AMPA (alpha-amino-3-hydroxy-5 methyl-isoxazole- 4-propionic acid), là phân nhóm phụ (subtype) của thụ thể amino acid (glutamat) kích thích, nhưng lại không có tác dụng rõ ràng trên hoạt tính của N- methyl -D- aspartat (NMDA) tại phân nhóm phụ (subtype) của thụ thể NMDA. Những tác dụng này của topiramat phụ thuộc nồng độ, trong khoảng nồng độ từ 1mcM tới 200 mcM, với hoạt tính ít nhất quan sát được là ở nồng độ 1 mcm tới 10 mcM. Ngoài ra, topiramat ức chế một vài isoenzym của anhydrase carbonic. Tác dụng được lý này của topiramat yếu hơn nhiều so với tác dụng của acetazolamid, là chất ức chế anhydrase carbonic đã được biết, và không được cho là một cơ chế chính của hoạt tính chống động kinh của topiramat. Nghiên cứu trên động vật, topiramat có hoạt tính chống co giật ở chuột cống và chuột nhắt trong các thử nghiệm lên cơn co giật bằng sốc điện tối đa (MES) và có hiệu quả trong các loài gặm nhấm bị chứng động kinh, bao gồm động kinh co cứng và động kinh giống cơn vắng trong chuột cống bị động kinh tự phát (SER) và các cơn động kinh co cứng cọ giật ở chuột cống bởi sự kích thích vùng hạnh nhân hoặc bởi sự thiếu máu toàn thể. Topiramat chỉ có tác dụng yếu trong ức chế cơn động kinh co giật do tác động của chất đối kháng của thụ thể GABAA, là pentylenetetrazol. Nghiên cứu trên chuột nhắt dùng đồng thời topiramat và carbamazepin hoặc phenobarbital cho thấy tác dụng chống co giật là hiệp đồng, trong khi kết hợp với phenytoin chỉ cho thấy có hoạt tính chống co giật có tác dụng cộng hợp. Trong các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng, dùng topiramat như thuốc phối hợp, chứng minh không có mối tương quan nào giữa nồng độ đáy của topiramat trong huyết tương với hiệu quả lâm sàng của thuốc này. Không có bằng chứng về sự dung nạp ở người. Cơn động kinh vắng ý thức Hai nghiên cứu nhỏ một nhánh được thực hiện trên trẻ em từ 4-11 tuổi (CAPSS-326 và TOPAMAT-ABS-001). Nghiên cứu được tiến hành trên 5 trẻ em và nghiên cứu còn lại tiến hành trên 12 trẻ em trước khi bị chấm dứt sớm do không đáp ứng điều trị. Liều dùng trong các nghiên cứu này lên đến khoảng 12 mg/kg trong nghiên cứu TOPAMAT-ABS-001 và tối đa ở mức thấp hơn là 9 mg/kg/ngày hoặc 400 mg/ngày trong nghiên cứu CAPSS-326. Những nghiên cứu này không cung cấp đủ bằng chứng kết luận ở trẻ em. Điều trị đơn trị liệu ở bệnh nhan từ 6 đến 15 tuổi bị bại nao mới được chuẩn đoán hoặc gần đây Một nghiên cứu nhãn mở trong 1 năm trên 63 bệnh nhi từ 6 đến 15 tuổi bị động kinh gần hoặc mới khởi phát để đánh giá ảnh hưởng khi điều trị bằng topiramate (ở 28 bệnh nhi) với levetiracetam trên tăng trưởng, phát triển và quá trình khoáng hóa xương. Quan sát thấy sự tăng trưởng ở cả hai nhóm điều trị nhưng nhóm dùng topiramate cho thấy sự giảm đáng kể về mặt thống kê trên thay đổi tăng trưởng trung bình hàng năm về trọng lượng cơ thể và mật độ khoáng xương so với chỉ số ban đầu với nhóm dùng levetiracetam. Đã quan sát thấy xu hướng tương tự trên chiều cao và mức tăng chiều cao nhưng thay đổi này không có ý nghĩa thống kê. Những thay đổi liên quan đến tăng trưởng không có ý nghĩa lâm sàng và hạn chế việc điều trị. Không thể loại trừ các yếu tố gây nhiễu khác. Dược động học Công thức viên nén bao phim và viên nang cứng tương đương sinh học với nhau. Đặc tính dược động học của topiramat khi so sánh với các thuốc chống động kinh khác cho thấy topiramat có thời gian bán thải trong huyết tương dài, dược động học tuyến tính, phần lớn là thanh thải ở thận, không có gắn kết đáng kể với protein và không có các chất chuyển hóa có hoạt tính liên quan về lâm sàng. Topiramat không phải là một chất cảm ứng mạnh với các enzym chuyển hóa thuốc, không bị ảnh hưởng bởi thức ăn, và không cần phải kiểm tra định kỳ nồng độ của topiramat trong huyết tương. Trong các nghiên cứu lâm sàng, không có mối quan hệ nhất quán nào giữa nồng độ của thuốc trong huyết tương với hiệu quả của thuốc hoặc biến cố bất lợi. Hấp thu Topiramat hấp thu tốt và nhanh. Sau khi uống 100 mg topiramat, người khỏe mạnh có nồng độ đỉnh trung bình trong huyết tương (C max ) là 1,5 µg/ml đạt được trong vòng 2 đến 3 giờ (T max ). Dựa trên sự thu hồi lại hoạt tính phóng xạ từ nước tiểu, phạm vi hấp thu trung bình của 100 mg liều uống 14C-topiramat ít nhất là 81%. Thức ăn không có tác động đáng kể về mặt lâm sàng trên sinh khả dụng của topiramat. Phân bố Nói chung, có khoảng 13-17% topiramat gắn kết với protein huyết tương. Một vị trí có khả năng gắn kết thấp cho topiramat trong/ trên hồng cầu và có thể bão hoà với nồng độ trong huyết tương 4 µg/ml đã được biết. Thể tích phân bố biến đổi tỉ lệ nghịch với liều dùng. Thể tích biểu kiến trung bình của sự phân bổ thuốc là 0,08-0,55 l/kg khi dùng liều duy nhất từ 100-1200 mg. Giới tính được phát hiện có tác động đến thể tích phân bố của thuốc, giá trị với nữ giới khoảng 50% so với của nam giới. Điều này được cho là do phần trăm chất béo trong cơ thể của bệnh nhân nữ cao hơn và điều này không có ý nghĩa lâm sàng. Chuyển hóa Topiramat không được chuyển hóa nhiều (~ 20%) ở người tình nguyện khỏe mạnh. Topiramat được chuyển hóa đến 50% ở những bệnh nhân dùng đồng thời với các thuốc chống động kinh là những chất gây cảm ứng các enzym chuyển hóa thuốc. Sáu chất chuyển hóa, hình thành qua sự hydroxyl hóa, thủy phân và glucuro - liên hợp đã được phân lập, định tính từ huyết tương, nước tiểu và phân. Mỗi chất chuyển hóa có mặt dưới 3% của tổng số hoạt tính phóng xạ bài tiết sau khi dùng 14C-topiramat. Hai chất chuyển hóa gần như vẫn còn giữ cấu trúc của topiramat được thử nghiệm và nhận thấy còn một ít hay không có hoạt tính chống co giật. Thải trừ Ở người, con đường thải trừ chính của topiramat dạng không đổi và các chất chuyển hoá của nó là qua thận (ít nhất là 81% của liều dùng). Khoảng 66% của liều dùng 14C-topiramat được bài tiết dưới dạng không đổi trong nước tiểu trong vòng 4 ngày. Sau khi dùng liều 50 mg và 100 mg topiramat hai lần/ ngày, sự thanh thải ở thận trung bình tương ứng khoảng 18 mL/phút và 17 mL/phút. Có bằng chứng về sự tái hấp thu qua ống thận của topiramat. Bằng chứng này được hỗ trợ bởi nghiên cứu ở chuột dùng đồng thời topiramat và probenecid, và có sự tăng đáng kể sự thanh thải thận của topiramat. Nói chung, sự thanh thải huyết tương khoảng 20-30 mL/phút ở người sau khi uống topiramat. Sự tuyến tính/không tuyến tính Topiramat có sự thay đổi nồng độ trong huyết tương giữa những cá thể khác nhau thấp và vì vậy có thể dự đoán trước được dược động học. Dược động học của topiramat tuyến tính với sự thanh thải còn ổn định của huyết tương và diện tích dưới đường cong của nồng độ trong huyết tương tăng tỉ lệ với liều duy nhất 100 đến 400 mg ở người khỏe mạnh. Người bệnh có chức năng thận bình thường có thể mất 4 đến 8 ngày để đạt được nồng độ trong huyết tương ở trạng thái hằng định. C max trung bình là 6,76 µg/ml sau khi dùng đa liều 100 mg/hai lần/ngày ở người khỏe mạnh. Sau khi dùng đa liều 50 mg và 100 mg/hai lần/ngày, thời gian bán thải trung bình trong huyết tương là khoảng 21 giờ. Sử dụng cùng với thuốc chống động kinh khác Dùng nhiều liều topiramat từ 100 đến 400 mg/hai lần/ngày đồng thời với phenytoin hoặc carbamazepin cho thấy nồng độ trong huyết tương của topiramat tăng tỉ lệ với liều. Dân số đặc biệt Suy thận Sự thanh thải ở thận và huyết tương của topiramat giảm ở những bệnh nhân suy thận (CLCR ≤ 70 mL/ phút). Vì vậy, nồng độ trong huyết tương ở trạng thái hằng định của topiramat khi dùng liều xác định ở những bệnh nhân suy thận sẽ cao hơn ở những bệnh nhân có chức năng thận bình thường. Hơn nữa, bệnh nhân suy giảm chức năng thận có thời gian đạt trạng thái hằng định lâu hơn tại mỗi liều. Khuyến cáo dùng một nửa liều bắt đầu và liều duy trì ở bệnh nhân suy thận mức độ vừa và nặng Topiramat được loại bỏ hiệu quả khỏi huyết tương bởi thẩm tách máu. Thẩm tách máu kéo dài có thể làm giảm nồng độ của topiramat dưới mức cần thiết để duy trì hiệu quả chống co giật. Để tránh việc giảm quá nhanh nồng độ topiramat trong huyết tương trong quá trình thẩm tách máu, có thể cần bổ sung thêm liều của topiramat. Việc chỉnh liều nên dựa trên: 1) thời gian thẩm tách máu, 2) tỉ lệ thanh thải của hệ thống thẩm phân được sử dụng, và 3) mức thanh thải qua thận có hiệu quả của topiramat trên bệnh nhân đang được chạy thận. Suy gan Sự thanh thải trong huyết tương của topiramat giảm trung bình khoảng 26% ở những bệnh nhân suy gan từ trung bình đến nặng. Vì vậy, phải cẩn thận khi dùng topiramat trên các bệnh nhân suy gan. Người cao tuổi Sự thanh thải trong huyết tương của topiramat không thay đổi ở những người cao tuổi hiện tại không có bệnh thận. Dược động học ở trẻ em đến 12 tuổi Dược động học của topiramat ở trẻ em là tuyến tính giống như ở người lớn khi điều trị phối hợp, với sự thanh thải không phụ thuộc liều và các nồng độ trong huyết tương ở trạng thái hằng định tăng tỉ lệ với liều. Tuy nhiên, ở trẻ em có sự thanh thải cao hơn và thời gian bán hủy ngắn hơn. Vì vậy, nồng độ của topiramat trong huyết tương khi dùng cùng một liều mg/kg có thể thấp hơn ở trẻ so với ở người lớn. Giống như ở người lớn, những thuốc chống động kinh cảm ứng men gan làm giảm nồng độ trong huyết tương ở trạng thái hằng định.

Thành phần

Topiramate 25mg

Cách dùng

Cách dùng Pms-Topiramate 25 mg ở dạng viên nén bao phim, dùng đường uống. Khuyến cáo khi dùng không được bẻ viên Pms-Topiramate 25 mg. Có thể uống Pms-Topiramate 25 mg mà không cần quan tâm đến bữa ăn. Liều dùng Không cần thiết phải kiểm soát nồng độ của topiramat trong huyết tương để tối ưu hoá điều trị với Pms-Topiramate 25 mg. Trong những trường hợp hiếm, sử dụng thêm Pms-Topiramate 25 mg với phenytoin có thể cần điều chỉnh liều phenytoin để đạt được hiệu quả lâm sàng tối ưu. Có thể cần điều chỉnh liều Pms-Topiramate 25 mg nếu thêm vào hoặc ngừng phenytoin và carbamazepin trong điều trị phối hợp với Pms-Topiramate 25 mg. Nên khởi đầu liều thấp và chỉnh liều sau đó để đạt được mức liều có hiệu quả. Động kinh - điều trị phối hợp Người lớn Nên khởi đầu với liều 25 tới 50 mg vào buổi tối trong một tuần. Đã có báo cáo việc sử dụng liều khởi đầu thấp hơn nhưng chưa được nghiên cứu một cách hệ thống. Sau đó cách mỗi một tuần hoặc mỗi hai tuần, nên tăng liều thêm 25 tới 50 mg/ngày và chia làm 2 lần uống mỗi ngày. Việc chỉnh liều phải dựa vào đáp ứng lâm sàng. Một số bệnh nhân có thể đạt hiệu quả điều trị khi dùng liều 1 lần/ngày. Trong các thử nghiệm lâm sàng khi điều trị phối hợp, mức liều 200 mg là có hiệu quả và là liều thấp nhất được nghiên cứu. Vì vậy, liều này có thể được xem như là liều tối thiểu đạt hiệu quả. Liều dùng thông thường hàng ngày là 200 đến 400 mg, chia làm hai lần. Một số bệnh nhân đã được dùng ở liều cai 1600 mg/ngày. Các khuyến cáo về liều dùng này áp dụng cho tất cả người lớn, kể cả người cao tuổi hiện không có bệnh về thận. Trẻ em từ 2 tuổi trở lên Tổng liều dùng hàng ngày của Pms-Topiramate 25 mg khi điều trị phối hợp được khuyến cáo khoảng 5 đến 9 mg/kg/ngày, chia làm hai lần. Việc chỉnh liều nên được khởi đầu bằng 25 mg (hoặc thấp hơn, dựa trên phạm vi liều từ 1 đến 3 mg/kg/ngày) vào mỗi tối trong tuần đầu tiên. Sau đó để đạt được đáp ứng lâm sàng tối ưu, sau cách mỗi 1 hoặc 2 tuần nên tăng liều trong giới hạn khoảng 1 đến 3 mg/kg/ngày (chia làm hai lần uống). Việc chỉnh liều nên dựa trên đáp ứng lâm sàng. Liều dùng hàng ngày lên tới 30 mg/kg/ngày đã được nghiên cứu và nói chung được dung nạp tốt. Động kinh - Đơn trị liệu Khi ngừng các thuốc chống động kinh phối hợp để đạt được đơn trị liệu bằng topiramat, nên xem xét đến những tác động có thể có của việc này trên sự kiểm soát cơn động kinh. Liều của các thuốc chống động kinh điều trị phối hợp được khuyến cáo giảm từ từ với tỷ lệ khoảng 1/3 mỗi hai tuần trừ khi cần phải ngừng ngay các thuốc chống động kinh phối hợp vì liên quan đến tính an toàn. Khi ngừng dùng các thuốc gây cảm ứng enzyme chuyển hoa, nồng độ của topiramat sẽ tăng. Có thể cần phải giảm liều Pms-Topiramate 25 mg nếu có chỉ định lâm sàng. Người lớn Sự chỉnh liều nên khởi đầu ở liều 25 mg dùng mỗi buổi tối trong một tuần. Sau đó, cách mỗi 1 tuần hoặc mỗi 2 tuần, nên tăng liều thêm 25 hoặc 50 mg/ngày và chia làm 2 lần uống một ngày. Nếu bệnh nhân không thể dung nạp với chế độ chỉnh liều như vậy, thì nên tăng liều ít hơn hoặc kéo dài khoảng thời gian giữa các lần tăng liều. Liều và tốc độ chỉnh liều nên dựa trên đáp ứng lâm sàng. Liều khởi đầu khuyến cáo khi đơn trị liệu bằng topiramat ở người lớn trong khoảng 100 đến 200 mg/ngày chia làm 2 lần và liều hàng ngày tối đa được khuyến cáo là 500 mg/ngày chia làm 2 lần. Một số bệnh nhân động kinh thể kháng trị dung nạp với topiramat ở liều 1000 mg/ngày trong đơn trị liệu. Các liều khuyến cáo này áp dụng cho tất cả người lớn, kể cả người cao tuổi không có bệnh về thận. Trẻ em từ 6 tuổi trở lên Trẻ em từ 6 tuổi trở lên nên bắt đầu với liều từ 0,5 mg đến 1 mg/kg vào buổi tối, trong tuần đầu. Sau đó cách mỗi 1 hoặc 2 tuần, tăng liều khoảng 0,5 đến 1 mg/kg/ngày, chia làm hai lần uống. Nếu trẻ không thể dung nạp với chế độ chỉnh liều trên, thì nên tăng liều ít hơn hoặc kéo dài thời gian giữa các lần tăng liều. Liều và tốc độ chỉnh liều nên dựa trên đáp ứng lâm sàng. Liều khởi đầu khuyến cáo khi đơn trị liệu bằng topiramat ở trẻ em từ 6 tuổi trở lên là từ 100 đến 400 mg/ngày. Trẻ em mới được chẩn đoán cơn động kinh khởi phát cục bộ đã dùng liều lên đến 500 mg/ngày. Đau nửa đầu Người lớn Tổng liều khuyên dùng mỗi ngày của topiramat trong điều trị dự phòng đau nửa đầu là 100 mg/ngày, chia làm 2 lần. Sự chỉnh liều nên khởi đầu bằng liều 25 mg dùng mỗi tối trong một tuần. Sau đó mỗi tuần nên tăng thêm 25 mg/ngày. Nếu bệnh nhân không thể dung nạp với chế độ chỉnh liều như vậy thì nên kéo dài hơn khoảng thời gian giữa các lần điều chỉnh liều. Ở một số bệnh nhân đã có hiệu quả với tổng liều hằng ngày 50 mg/ngày. Một số bệnh nhân đã sử dụng tổng liều hằng ngày lên đến 200 mg/ngày. Liều và tốc độ chỉnh liều nên dựa trên đáp ứng lâm sàng. Bệnh nhân đặc biệt Suy thận Ở những bệnh nhân suy thận (độ thanh thải creatinin < 70 mL/phút), nên thận trọng khi uống topiramat bởi độ thanh thải của topiramat ở thận và huyết tương giảm. Bệnh nhân suy thận cần thời gian dài hơn để đạt tới trạng thái hằng định tại mỗi mức liều. Khuyến cáo giảm một nửa liều khởi đầu và liều duy trì. Ở những bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối, vì Pms-Topiramate 25 mg bị loại khỏi huyết tương khi chạy thận nhân tạo, nên bổ sung thêm nửa liều Pms-Topiramate 25 mg thường dùng hằng ngày trong những ngày chạy thận. Liều Pms-Topiramate 25 mg bổ sung khi chạy thận nên được chia ra dùng vào lúc bắt đầu và khi kết thúc quy trình chạy thận nhân tạo. Liều bổ sung có thể khác nhau dựa trên đặc tính thiết bị thẩm tách máu sử dụng. Suy gan Topiramat nên được dùng thận trọng ở bệnh nhân suy gan. Lưu ý: Liều dùng trên chỉ mang tính chất tham khảo. Liều dùng cụ thể tùy thuộc vào thể trạng và mức độ diễn tiến của bệnh. Để có liều dùng phù hợp, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên viên y tế. Làm gì khi dùng quá liều? Triệu chứng và dấu hiệu Quá liều topiramat đã được báo cáo. Dấu hiệu và triệu chứng bao gồm: Co giật, buồn ngủ, rối loạn ngôn ngữ, nhìn mờ, song thị, sa sút tinh thần, lờ đờ, bất thường phối hợp, sững sờ, hạ huyết áp, đau bụng, kích động, chóng mặt và trầm cảm. Hầu hết các trường hợp, tiến triển làm sàng không trầm trọng ngoại trừ những trường hợp tử vong được báo cáo sau khi sử dụng quá liều nhiều thuốc có bao gồm topiramat. Quá liều topiramat có thể gây nên toan chuyển hóa nặng. Điều trị Trong trường hợp quá liều, nên ngừng sử dụng topiramat và tiến hành điều trị hỗ trợ chung cho đến khi độc tính trên lâm sàng giảm bớt hoặc được giải quyết. Bệnh nhân nên được bù nước đầy đủ. Thẩm tách máu đã được chứng minh là một phương pháp hữu hiệu để loại bỏ topiramat khỏi cơ thể. Các biện pháp khác cũng có thể được thực hiện theo quyết định của bác sĩ. Trong trường hợp khẩn cấp, hãy gọi ngay cho Trung tâm cấp cứu 115 hoặc đến trạm Y tế địa phương gần nhất. Làm gì khi quên 1 liều? Bổ sung liều ngay khi nhớ ra. Tuy nhiên, nếu thời gian giãn cách với liều tiếp theo quá ngắn thì bỏ qua liều đã quên và tiếp tục lịch dùng thuốc. Không dùng liều gấp đôi để bù cho liều đã bị bỏ lỡ.

Dữ liệu được ghi nhận vào 2026-08-28T04:04:51.422Z. Dược Hub cung cấp thông tin tham khảo, không bán thuốc trực tuyến và không thay thế tư vấn của bác sĩ hoặc dược sĩ. Giá thuốc và tồn kho không được công bố tại URL này.