Thuốc Pregabakern 100mg Kern chỉ định điều trị đau thần kinh, động kinh, rối loạn lo âu tổng quát (6 vỉ x 14 viên)
Thuốc Pregabakern là sản phẩm của Kern Pharma S.l (Tây Ban Nha) chứa hoạt chất pregabalin điều trị đau thần kinh, động kinh, rối loạn lo âu tổng quát.
- Thương hiệu
- KERN
- Phân loại
- Thuốc kê đơn
- Số đăng ký
- VN-22828-21
- Quy cách/đơn vị
- Hộp
- Nhà sản xuất
- KERN PHARMA S.L - TÂY BAN NHA
Công dụng / chỉ định
Chỉ định Thuốc Pregabakern chỉ định điều trị trong các trường hợp sau: Đau thần kinh: Pregabalin được chỉ định để điều trị đau thần kinh ngoại vi và trung ương ở người lớn. Động kinh: Pregagabin được chỉ định điều trị bổ trợ các cơn động kinh một phần có hoặc không có toàn thể thứ phát ở người lớn. Rối loạn lo âu tổng quát: Progabalin được chỉ định để điều trị rối loạn lo âu tổng quát (GAD) ở người lớn. Dược lực học Nhóm dược lý: Thuốc chống động kinh, thuốc chống động kinh khác Mã ATC: N03AX16 Hoạt chất pregabalin là một chất tương tự axit gamma-aminobutyric ||S) -3- (aminomethyl) -5-methylhexanoic acid]. Cơ chế tác dụng Pregabalin gắn với 1 nhóm phụ (a2-8 protein) của dòng caci mang điện trong hệ thống thần kinh trung ương. Hiệu quả và độ an toàn lâm sàng Đau thần kinh Hiệu quả đã được chứng minh trong các thử nghiệm về bệnh thần kinh do tiểu đường. đầu dây triển kinh sau herpes và chấn thương tủy sống. Hiệu quả chưa được nghiên cứu trong các loại đau thần kinh khác. Pregabalin đã được nghiên cứu trong 10 thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát lên đến 13 tuần với chế độ liều 2 lần/ngày và 8 tuần với chế độ liều 3 lần/ngày. Nhìn chung, dữ liệu về an toàn và hiệu quả cho cả 2 chế độ liều này là tương tự nhau. Trong các thử nghiệm lâm sàng lên đến 12 tuần cho cả đau thần kinh ngoại biên và trung ương, hiệu quả giảm đau đã được thấy sau 1 tuần và được duy trì trong suốt thời gian điều trị. Trong các thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát cho đau thần kinh ngoại vi, 35% số bệnh nhận được điều trị bằng pregabalin và 18% số bệnh nhân dùng giã được đã cải thiện 50% điểm số cường độ đau. Đối với bệnh nhân không bị lơ mơ, sự cải thiện này đã được quan sát thấy ở 33% số bệnh nhân được điều trị bằng pregabalin và 18% số bệnh nhân dùng giả dược. Đối với những bệnh nhân bị lơ mơ tỷ lệ này là 48% đối với bệnh nhân dùng pregabalin và 16% đối với bệnh nhân dùng giả được. Trong các thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát cho đau thần kinh trung ương, 22% bệnh nhân điều trị bằng pregabalin và 7% số bệnh nhân dùng giả dược đã có một sự cải thiện 50% điểm số cường độ đau. Động kinh Điều trị phụ trợ: Pregabalin đã được nghiên cứu trong 3 thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát trong khoảng thời gian 12 tuần với cả chế độ liều 2 lần/ngày hoặc 3 lần/ngày. Nhìn chung, dữ liệu về an toàn và hiệu quả cho của 2 chế độ liều này tương tự nhau. Đã quan sát thấy tần số cơn động kinh giảm sau tuần đầu điều trị. Đối tượng trẻ em Hiệu quả và độ an toàn của pregabalin để điều trị bố trợ cho bệnh động kinh ở bệnh nhi dưới 12 tuổi và tranh thiếu niên chưa được thành lập. Các tác dụng phụ quan sát thấy trong một nghiên cứu dược động học và khả năng dung nạp ghi nhận ở bệnh nhân từ 3 tháng đến 16 tuổi (1 = 65) với cơn động kinh khởi phát cục bộ tương tự như những quan sát thấy được ở người lớn. Kết quả của một nghiên cứu đối chứng giả được kéo dài trong 12 tuấn của 205 bệnh nhân trẻ từ 4 đến 16 tuổi được thực hiện để đánh giá hiệu quả và độ an toàn của pregabaln như liệu pháp điều trị bổ trợ để điều trị co giật khởi phát cục bộ và nghiên cứu an toàn nhân mở trong 1 năm ở 54 bệnh nhi từ 3 tháng đến 10 tuổi với chứng động kinh cho thấy các tác dụng phụ sốt rét và nhiễm trùng đường hô hấp trên đã được quan sát thường xuyên hơn so với các nghiên cứu ở người lớn bị bệnh động kinh. Trong nghiên cứu đối chứng giả được 12 tuần, bệnh nhi được chỉ định dùng pregabalin 2,5 ng / kg / ngày (tối đa 150 mg / ngày), pregabalin 10 mg / kg / ngày (tối đa 600 mg / ngày) hoặc giả được. Tỷ lệ đối tượng giảm ít nhất 50% số lần khởi phát của bộ so với đường cơ sở là 40,6% đối tượng được điều trị bằng pregabalin 10 mg / kg / ngày (p = 0,006 so với giả dược), 29,1% đối tượng điều trị bằng pregabalin 2,5 mg / kg / ngày (p = 0,2800 so với giả được) và 22,6% người dùng giả được. Đơn trị: Pregabalin đã được nghiên cứu trong 1 thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát trong khoảng thời gian 56 tuần với lều 2 lần/ngày. Pregabalin có hiệu quả không thua kém lamotrigine. Pregabalin và lamotrigine có độ an toàn và dung nạp tốt tương tự nhau. Rối loạn lo âu tổng quát Pregabalin đã được nghiên cứu trong 6 thử nghiệm có kiểm soát trong khoảng thời gian tuần, một nghiên cứu cho người cao tuổi trong khoảng thời gian 8 tuần và nghiên cứu phòng ngừa tái phát lâu dài với một giai đoạn mỗ đãi phòng ngừa tái phát trong khoảng thời gian 6 tháng. Sự giảm các triệu chứng của rối loạn lo âu tổng quát được thể hiện qua điểm số thang đánh giá trầm cảm Harillon (HAM-A) đã được quan sát sau tuần đầu. Trong các thử nghiệm lâm sàng đối chứng (thời gian 4-8 tuần 52% số bệnh nhân dùng pregabalin và 38% bệnh nhân dùng giả dược đã có sự cải thiện 50% tổng số điểm trong thang đánh giá trầm cảm Hamilton từ khi bắt đầu đến kết thúc điều trị. Trong các nghiên cứu có kiểm soát, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị bằng pregabalin đã được báo cáo mỡ mắt hơn so với bệnh nhân được điều trị bằng giả được đã giải quyết trong phần lớn các trường hợp với liều tiếp theo. Thử nghiệm nhãn khoa (bao gồm kiểm tra thị lực, kiểm tra thị giác chính thức và kiểm tra soi đáy mắt giãn nở) được tiến hành ở hơn 3600 bệnh nhân trong các thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát. Ở những bệnh nhân này, thị lực giảm ở 6,5% bệnh nhân được điều trị bằng pregabalin và 4,8% bệnh nhân được điều trị bằng giả dược. Những thay đổi về thị giác được phát hiện ở 12,4% bệnh nhân được điều trị bằng pregabalin và 11,7% bệnh nhân được điều trị bằng giả dược. Những thay đổi cơ bản đã được quan sát thấy trong 1,7% điều trị pregabalin và 2,1% bệnh nhân được điều trị bằng giả dược. Dược động học Dược động học ổn định của pregabalin là giống nhau trên những người tình nguyện khỏe mạnh, các bệnh nhân động kinh đang dùng thuốc chống động kinh và các bệnh nhân đau mãn tính. Hấp thu Pregabalin được hấp thu nhanh khi uống lúc đói, nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được sau 1 giờ trong cả dùng liều đơn và liều đa Khả dụng sinh học đường uống của pregabalin khoảng 90% và phụ thuộc vào liều dùng, Trong dũng nhắc lại, tình trạng ổn định đạt được trong 24 - 48 giờ. Tỷ lệ hấp thụ của pregabalin giảm khi dùng cùng thức ăn dẫn đến C, giảm khoảng 25 - 30% và kéo dài trai sau khoảng 2,5 giờ. Tuy nhiên, dùng pregabalin cùng thức ăn không có ảnh hưởng làm sàng đáng kể nào đến mức độ hấp thụ pregabalin. Phân bố Thể tích phân bố biểu kiến của pregabalin sau khi dùng đường uống khoảng 0,56 l/kg. Pregabalin không gắn kết với protein huyết tương. Chuyển hóa Pregabalin được chuyển hóa không đáng kể trong cơ thể người. Sau khi dùng pregabalin đánh dấu phóng xạ. khoảng 98% được tìm thấy trong nước tiểu là pregabalin ở dạng chưa chuyển hóa. Dẫn xuất N-methylat của pregabalin, chất chuyển hóa chính của pregabalin’ được tìm thấy trong nước tiểu, chiếm khoảng 0,9% liều dùng. Trong các nghiên cứu tiền làm sàng không có dấu hiệu nào về sự biến đổi pregabalin đồng phân tử tuyển thành đồng phân hữu tuyến Thải trừ Pregabalin được thải trừ khỏi hệ tuần hoàn chủ yếu do bài tiết qua trận ở nguyên dạng. Thời gian bán thải trung bình của pregabalin là 6.3 giờ. Thanh thải pregabalin huyết tương và thanh thải thận tỷ lệ thuận với thanh thải creatinin. Điều chỉnh liều trên các bệnh nhân giảm chức năng thận hoặc thẩm tách máu là cần thiết. Tuyến tính/không tuyến tính Dược động học của pregabalin là tuyến tính trong khoảng liều đơn hàng ngày. Khoảng biến thiên được động học của pregabalin là thấp (< 20%). Các đặc tính dược động học của liều đa có thể dự đoán từ các dữ liệu của liều đơn. Dược động học ở những nhóm bệnh nhân đặc biệt Suy thận Thanh thải pregabalin tỷ lệ thuận với thanh thải creatinin. Thêm vào đó, pregabalin được loại bỏ hiệu quả khỏi huyết tương nhờ thẩm tách máu (sau 4 giờ thẩm tách máu nồng độ huyết tương của pregabalin giảm khoảng 50%). Bởi vì thải trừ qua thận là đường thải trừ chính, giảm liều với bệnh nhân suy thận về dùng liều bổ sung với bệnh nhân thẩm tách máu là cần thiết Suy gan Không có các nghiên cứu đặc hiệu tiến hành trên các bệnh nhân suy gan. Vì pregabalin được chuyển hóa không đáng kể và thải trừ chủ yếu qua nước tiểu ở nguyên dạng, bệnh nhân suy gan không có thay đổi đáng kể về nồng độ huyết tương. Trẻ em Dược động học của pregabalin được đánh giá ở những bệnh nhi bị bệnh động kinh (nhóm tuổi 1 đến 23 tháng. 2 đến 6 tuổi, 7 đến 11 tuổi và 12 đến 16 tuổi) ở mức liều 2,5, 5, 10 và 15 mg/kg/ngày ở một nghiên cứu dược động học và khả năng dung nạp. Sau khi uống pregabalin cho trẻ em ở trạng thái nhịn ăn, nói chung, thời gian đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương tương tự trong toàn bộ nhóm tuổi và xảy ra 0,5 giờ đến 2 giờ sau khi dùng thuốc. Các thông số Cmax và AUC của pregabalin tăng theo cách tuyến tính với liều tăng dần trong mỗi nhóm tuổi. AUC thấp hơn 30% ở những bệnh nhi dưới 30 kg cân nặng do tăng trọng lượng cơ thể làm thay đổi 43% độ thanh thái ở những bệnh nhẫn này so với bệnh nhân cân nặng 230 kg. Thời gian bán hủy giai đoạn cuối của pregabalin trung bình khoảng 3 đến 4 giờ ở bệnh nhân nhi đến 6 tuổi và từ 4 đến 6 giờ ở những trẻ từ 7 tuổi trở lên. Phân tích dược động học đối tượng cho thấy độ thanh thải creatinin là một biến số đáng kể của sự thanh thải pregabalin đường uống, trọng lượng cơ thể là một biến số đáng kể của thể tích phân bố biểu kiến của pregabalin đường uống, và các mối quan hệ này tương tự ở bệnh nhi và người lớn. Dược động học pregabalin ở bệnh nhân dưới 3 tháng tuổi chưa được nghiên cứu. Người già Thanh thải pregabalin có xu hướng giảm theo sự tăng của tuổi. Sự giảm thanh thải pregabalin đường uống không phụ thuộc vào sự giảm thanh thải creatinin liên quan đến sự tăng của tuổi. Cần giảm liều pregabalin trên các bệnh nhân tổn thương chức năng thận do tuổi cao. Phụ nữ cho con bú Dược động học của 150 mg pregabalin dùng mỗi 12 giờ (liều 300 mg mỗi ngày) được đánh giá ở 10 phụ nữ cho con bú ít nhất 12 tuần sau khi sinh. Cho con bú ít hoặc không ảnh hưởng đến được động học pregabalin. Pregabalin được bài tiết vào sữa mẹ với nồng độ ở trạng thái ổn định trung bình khoảng 76% nồng độ trong huyết tương của mẹ. Liều lượng trẻ sơ sinh ước tính nhận được từ sữa mẹ (giả sử mức tiêu thụ sữa trung bình 150 ml/kg/ngày) khi người mẹ dùng pregabalin 300 mg/ngày hoặc liều tối đa 600 mg/ngày sẽ là 0.31 hoặc 0,62 mg/kg/ngày, tương ứng. Những liều ước tính này là khoảng 7% tổng liều mẹ hàng ngày trên cơ sở mg/kg.
Thành phần
Pregabalin 100mg
Cách dùng
Cách dùng Viên nang cứng pregabalin có thể được cùng cùng hoặc không cùng với thức ăn. Liều dùng Liều dùng từ 150 đến 800 mg mỗi ngày, được chia thành hai hoặc ba lần. Đau thần kinh: Pregabalin có thể được khởi đầu với liều 150mg mỗi ngày được chia thành hai hoặc ba lần. Dựa trên đáp ứng và khả năng dung nạp của từng bệnh nhân, có thể tăng liều lên đến 300mg mỗi ngày sau 3 - 7 ngày, và nếu cần, tăng đến liều tối đa 600mg mỗi ngày sau 7 ngày. Động kinh: Pregabalin có thể được khởi đầu với liều 150mg mỗi ngày chia hai hoặc ba lần. Dựa trên đáp ứng và khả năng dung nạp của từng bệnh nhân, liều dùng có thể tăng lên đến 300 ng mỗi ngày sau 1 tuần. Liều tối đa 600mg mỗi ngày có thể đạt được sau một tuần nữa. Rối loạn lo âu tổng quát: Liều dùng từ 150 đến 600mg mỗi ngày được chia thành hai hoặc ba lần. Sự cần thiết của việc điều trị nên được đánh giá lại thường xuyên. Pregabalin có thể được khởi đầu với liều 150mg mỗi ngày. Dựa trên đáp ứng và khả năng dung nạp của từng bệnh nhân, liều dùng có thể tăng lên đến 300mg mỗi ngày sau 1 tuần. Tuần sau đó, có thể tăng liều lần đến 450mg mỗi ngày. Liều tối đa 600mg mỗi ngày có thể đạt được sau một tuần nữa. Ngưng dùng pregabalin: Theo thực hành lâm sàng hiện nay, nếu ngưng pregabalin, người ta khuyến cáo nên được thực hiện dần dần, tối thiểu là 1 tuần, không phụ thuộc vào chỉ định. Các đối tượng đặc biệt: Bệnh nhân suy thận: Pragabalin được loại bỏ khỏi hệ tuần hoàn chủ yếu do bài tiết qua thận ở dạng không đổi. Vì độ thanh lọc pregabalin tỷ lệ thuận với độ thanh lọc creatinin, giảm liều ở những bệnh nhân có chức năng thận bị tổn hại phải đặc thù theo độ thanh lọc creatinin (Clcr, được thể hiện trong bảng 1, xác định bằng cách sử dụng công thức sau đây: CLcr (ml/phút) = (1,23 x (140 – tuổi (năm)) x còn nặng (kg)/Creatinin huyết thanh (micromol/l) (x 0,85 đối với phụ nữ). Pregabalin được loại bỏ một cách hiệu quả từ huyết tương bằng cách lọc máu (50% thuộc trong 4 giờ). Đối với các bệnh nhân lọc máu, liều pregabalin hàng ngày nên được điều chỉnh dựa trên chức năng thận. Bên cạnh liều hàng ngày, một liều bổ sung nên được sử dụng ngay lập tức mỗi 4 giờ sau khi lọc máu. Độ thanh thải creatinin (Clcr) (ml/phút) Tổng liều dùng hàng ngày* Lần dùng mỗi ngày Liều khởi đầu (mg/ngày) Liều tối đa (mg/ngày) ≥ 60 150 600 2 hoặc 3 lần ≥ 30 - < 60 75 300 2 hoặc 3 lần ≥15 - 30 25 - 50 150 1 hoặc 2 lần <15 25 75 1 lần Liều bổ sung sau lọc máu (mg) 25 100 1 liều đơn * Tổng liều hàng ngày (mg/ngày) nên được chia theo chỉ định bởi số liều dùng hàng ngày mg/liều. + Liều bổ sung là liều dùng thêm một lần Sử dụng ở bệnh nhân suy gan: Không cần chỉnh liều ở bệnh nhân suy gan. Sử dụng thuốc cho trẻ em: Sự an toàn và hiệu quả của pregabalin trên trẻ em dưới 12 tuổi và thanh thiếu niên (12 - 17 tuổi) chưa được thiết lập. Không có nghiên cứu. Sử dụng ở người lớn tuổi (trên 65 tuổi): Bệnh nhân lớn tuổi có thể cần giảm liều pregabalin do chức năng thận giảm (xem bệnh nhân suy thận). Lưu ý: Liều dùng trên chỉ mang tính chất tham khảo. Liều dùng cụ thể tùy thuộc vào thể trạng và mức độ diễn tiến của bệnh. Để có liều dùng phù hợp, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên viên y tế. Làm gì khi dùng quá liều? Trong quá liều lên đến 15g, không có phản ứng không mong muốn được báo cáo. Trong các trải nghiệm post-marketing, các phản ứng phụ thường gặp nhất được ghi nhận khi sử dụng quá liều pregabalin bao gồm buồn ngủ, trạng thái lú lẫn, kích động, và bồn chồn. Điều trị quá liều pregabalin bao gồm các biện pháp hỗ trợ và có thể chạy thận nhân tạo nếu cần. Trong trường hợp khẩn cấp, hãy gọi ngay cho Trung tâm cấp cứu 115 hoặc đến trạm Y tế địa phương gần nhất. Làm gì khi quên 1 liều? Bổ sung liều ngay khi nhớ ra. Tuy nhiên, nếu thời gian giãn cách với liều tiếp theo quá ngắn thì bỏ qua liều đã quên và tiếp tục lịch dùng thuốc. Không dùng liều gấp đôi để bù cho liều đã bị bỏ lỡ.
Dữ liệu được ghi nhận vào 2026-08-28T04:04:51.422Z. Dược Hub cung cấp thông tin tham khảo, không bán thuốc trực tuyến và không thay thế tư vấn của bác sĩ hoặc dược sĩ. Giá thuốc và tồn kho không được công bố tại URL này.