← Danh mục thuốc

Thông tin sản phẩm tham khảo

Thuốc Prelynca 50mg trị rối loạn lo âu lan tỏa, hỗ trợ động kinh cục bộ (2 vỉ x 14 viên)

Thuốc Prelynca có thành phần chính là Pregabalin; được sử dụng để điều trị đau thần kinh trung ương và ngoại biên, điều trị bổ trợ các cơn động kinh cục bộ có hoặc không có lan tỏa thứ phát, điều trị rối loạn lo âu lan tỏa (GAD) ở người lớn.

Thương hiệu
MEGA We care
Phân loại
Thuốc kê đơn
Số đăng ký
VN-23232-22
Quy cách/đơn vị
Hộp
Nhà sản xuất
PHARMATHEN INTERNATIONAL SA

Công dụng / chỉ định

Chỉ định Thuốc Prelynca được chỉ định dùng trong các trường hợp sau: Đau thần kinh: Pregabalin được chỉ định để điều trị đau thần kinh trung ương và ngoại biên ở người lớn. Động kinh: Pregabalin được chỉ định điều trị bổ trợ các cơn động kinh cục bộ có hoặc không có lan tỏa thứ phát ở người lớn. Rối loạn lo âu lan tỏa: Pregabalin được chỉ định để điều trị rối loạn lo âu lan tỏa (GAD) ở người lớn. Dược lực học Nhóm dược lý: Thuốc chống động kinh, các thuốc chống động kinh khác. Mã ATC: N03AX16 Hoạt chất pregabalin, là một chất tương tự acid gamma-aminobutyric [(S)-3-(aminomethyl)-5-methylhexanoic acid]. Cơ chế tác dụng: Pregabalin liên kết với một tiểu đơn vị phụ (α2-δ protein) của kênh canxi phụ thuộc điện thế ở hệ thần kinh trung ương. An toàn và hiệu quả lâm sàng Đau nguồn gốc thần kinh Hiệu quả của thuốc đã được chứng minh qua các thử nghiệm lâm sàng bệnh lý thần kinh do đái tháo đường, đau dây thần kinh sau herpes và tổn thương tủy sống. Hiệu quả của thuốc chưa được nghiên cứu trong các trường hợp đau thần kinh khác. Pregabalin được nghiên cứu trong 10 thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát với thời gian điều trị lên đến 13 tuần ở liều 2 lần/ngày (BID) và 8 tuần ở liều 3 lần/ngày (TID). Nhìn chung, các số liệu về an toàn và hiệu quả của phác đồ ở mức liều 2 lần/ngày và 3 lần/ngày là tương tự nhau. Trong các thử nghiệm lâm sàng với thời gian điều trị lên tới 12 tuần trên bệnh nhân đau nguồn gốc thần kinh trung ương và ngoại vi, hiệu quả giảm đau xuất hiện sau một tuần và duy trì trong suốt thời gian điều trị. Trong các thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát với đau nguồn gốc thần kinh ngoại vi, 35% bệnh nhân được điều trị bằng pregabalin và 18% bệnh nhân dùng giả dược có cải thiện 50% điểm đau. Với bệnh nhân không bị buồn ngủ, mức cải thiện này là 33% ở nhóm dùng pregabalin và 18% ở nhóm dùng giả dược. Với bệnh nhân có xuất hiện buồn ngủ, tỷ lệ đáp ứng là 48% ở nhóm điều trị bằng pregabalin và 16% ở nhóm dùng giả dược. Trong thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát với đau nguồn gốc thần kinh trung ương, 22% bệnh nhân được điều trị bằng pregabalin và 7% bệnh nhân dùng giả dược có cải thiện 50% điểm đau. Động kinh Điều trị bổ trợ: Pregabalin đã được nghiên cứu trong 3 thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát trong khoảng thời gian 12 tuần với liều 2 lần/ngày (BID) hoặc 3 lần/ngày (TID). Nhìn chung, các số liệu an toàn và hiệu quả của cả hai mức liều 2 lần/ngày và 3 lần/ngày là tương tự nhau. Đã quan sát thấy có sự giảm tần suất co giật ở tuần đầu tiên. Trẻ em: Hiệu quả và an toàn của pregabalin trong điều trị bổ trợ bệnh động kinh ở trẻ em dưới 12 tuổi và thanh thiếu niên chưa được xác định. Trong một nghiên cứu về dược động học và khả năng dung nạp ở trẻ từ 3 tháng đến 16 tuổi (n = 65) bị động kinh cục bộ cho thấy các tác dụng ngoại ý xảy ra tương tự như ở người lớn. Theo kết quả của một nghiên cứu có đối chứng với giả dược trong 12 tuần, đánh giá hiệu quả và độ an toàn của pregabalin trong điều trị bổ trợ khởi phát cơn động kinh cục bộ ở 295 trẻ từ 4 đến 16 tuổi và nghiên cứu công khai nhãn kéo dài 1 năm ở 54 trẻ từ 3 tháng đến 16 tuổi bị động kinh cho thấy rằng các tác dụng không mong muốn sốt và nhiễm trùng hô hấp xảy ra thường xuyên hơn so với các nghiên cứu trên người lớn bị động kinh. Trong nghiên cứu đối chứng với giả dược trong 12 tuần, trẻ được chỉ định dùng pregabalin 2,5 mg/kg/ngày (tối đa 150 mg/ngày), pregabalin 10 mg/kg/ngày (tối đa 600 mg/ngày) hoặc giả dược, kết quả cho thấy tỉ lệ trẻ giảm được ít nhất 50% số cơn động kinh cục bộ khởi phát so với ban đầu là 40,6% ở trẻ dùng pregabalin 10 mg/kg/ngày (p = 0,0068 so với giả dược), 29,1% ở trẻ dùng pregabalin 2,5 mg/kg/ngày (p = 0,2600 so với giả dược) và 22,6% ở trẻ dùng giả dược. Đơn trị liêu (bệnh nhân mới được chẩn đoán) : Pregabalin đã được nghiên cứu trong một thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát kéo dài 56 tuần với liều 2 lần/ngày (BID). Pregabalin không đạt mức không thua kém so với lamotrigine trên tiêu chí đánh giá không có cơn động kinh xuất hiện trong vòng 6 tháng điều trị. Tính an toàn của pregabalin tương tự lamotrigine và thuốc được dung nạp tốt. Rối loạn lo âu lan tỏa : Pregabalin đã được nghiên cứu trong 6 thử nghiệm có kiểm soát kéo dài trong 4-6 tuần, một nghiên cứu trên bệnh nhân cao tuổi trong 8 tuần và một nghiên cứu phòng ngừa tái phát dài hạn với giai đoạn phòng ngừa tái phát được thực hiện mù đôi trong 6 tháng. Đã ghi nhận có sự giảm các triệu chứng của GAD vào tuần đầu tiên, theo thang đánh giá mức độ lo âu Hamilton (HAM-A). Trong các thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát (kéo dài 4-8 tuần), 52% bệnh nhân được điều trị bằng pregabalin và 38% bệnh nhân dùng giả dược có cải thiện ít nhất 50% tổng điểm theo thang đánh giá mức độ lo âu HAM-A tại thời điểm đánh giá so với trước khi điều trị. Trong các thử nghiệm có kiểm soát, tỷ lệ bệnh nhân bị nhìn mờ ở nhóm dùng pregabalin cao hơn so với nhóm dùng giả dược, phần lớn các trường hợp này đã tự khỏi khi tiếp tục dùng thuốc. Việc kiểm tra nhãn khoa (bao gồm kiểm tra thị lực, kiểm tra thị trường và soi đáy mắt có giãn đồng tử) đã được thực hiện trên 3600 bệnh nhân trong các thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát. Ở những bệnh nhân này, 6,5% bệnh nhân điều trị bằng pregabalin và 4,8% bệnh nhân dùng giả dược được ghi nhận có sự giảm thị lực. Thay đổi thị trường mắt được ghi nhận ở 12,4% bệnh nhân điều trị bằng pregabalin và 11,7% ở bệnh nhân dùng giả dược. Thay đổi khi soi đáy mắt cũng được ghi nhận ở 1,7% bệnh nhân điều trị bằng pregabalin và 2,1% bệnh nhân dùng giả dược. Dược động học Dược động học của pregabalin ở trạng thái ổn định là như nhau ở người tình nguyện khỏe mạnh, bệnh nhân được điều trị với thuốc chống động kinh và bệnh nhân bị đau mạn tính. Hấp thu Pregabalin được hấp thu nhanh chóng khi được sử dụng trong tình trạng nhịn đói, với nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được trong vòng 1 giờ sau khi sử dụng cả liều đơn và đa liều. Sinh khả dụng đường uống của pregabalin được ước tính ≥ 90% và không phụ thuộc vào liều dùng. Sau khi dùng liều lặp lại, trạng thái ổn định đạt được trong vòng 24 đến 48 giờ. Tỷ lệ hấp thu pregabalin giảm khi được dùng với thức ăn dẫn đến giảm C max khoảng 25-30% và làm chậm T max khoảng 2,5 giờ. Tuy nhiên, việc dùng pregabalin với thức ăn không có ảnh hưởng lâm sàng đáng kể trên mức độ hấp thu pregabalin. Phân bố Trong các nghiên cứu tiền lâm sàng cho thấy pregabalin qua được hàng rào máu não ở chuột nhắt, chuột và khỉ. Pregabalin có thể qua nhau thai ở chuột và hiện diện trong sữa ở những con chuột cho con bú. Ở người, thể tích phân bố của pregabalin sau khi uống là khoảng 0,56 1/kg. Pregabalin không gắn kết với protein huyết tương. Chuyển hóa Pregabalin trải qua quá trình chuyển hóa không đáng kể ở người. Sau một liều pregabalin đánh dấu phóng xạ, khoảng 98% chất phóng xạ thu hồi trong nước tiểu là pregabalin dạng không đổi. Các dẫn xuất N-methyl của pregabalin, các chất chuyển hóa chính của pregabalin đã tìm thấy trong nước tiểu, chiếm 0,9% liều dùng. Trong các nghiên cứu tiền lâm sàng, không có dấu hiệu racemic của pregabalin S-enantiomer thành R-enantiomer. Thải trừ Pregabalin được thải trừ khỏi hệ tuần hoàn chủ yếu do bài tiết qua thận ở dạng không đổi. Pregabalin có thời gian bán thải trung bình là 6,3 giờ. Độ thanh thải huyết tương và độ thanh thải thận của pregabalin tỷ lệ thuận với độ thanh thải creatinin. Cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân giảm chức năng thận hoặc chạy thận nhân tạo. Tuyến tính/không tuyến tính Dược động học pregabalin tuyến tính trên khoảng liều khuyến cáo hàng ngày. Sự khác biệt dược động học pregabalin giữa các cá thể thấp (< 20%). Dược động học đa liều được dự đoán từ dữ liệu đơn liều. Do đó, không cần thiết theo dõi hàng ngày nồng độ huyết tương của pregabalin. Giới tính Các thử nghiệm lâm sàng cho thấy giới tính không ảnh hưởng đáng kể về mặt lâm sàng trên nồng độ của pregabalin trong huyết tương. Suy thận Độ thanh thải pregabalin tỷ lệ thuận với độ thanh thải creatinin. Ngoài ra, pregabalin được thải trừ một cách hiệu quả từ huyết tương bằng cách lọc máu (sau 4 giờ lọc máu, nồng độ pregabalin huyết tương giảm khoảng 50%). Bởi vì thận là đường thải trừ chính, cần giảm liều ở bệnh nhân suy thận và dùng liều bổ sung sau lọc máu. Suy gan Không có nghiên cứu dược động học chuyên biệt được thực hiện trên những bệnh nhân suy chức năng gan. Do pregabalin không bị chuyển hóa đáng kể và được bài tiết chủ yếu trong nước tiểu ở dạng không đổi, suy chức năng gan dự kiến sẽ không thay đổi đáng kể nồng độ pregabalin trong huyết tương. Trẻ em Dược động học pregabalin được đánh giá trên bệnh nhân nhi bị động kinh (nhóm tuổi: 01 đến 23 tháng, 2-6 tuổi, 7-11 tuổi và 12-16 tuổi) ở các mức liều 2,5; 5; 10 và 12 mg/kg/ngày trong nghiên cứu dược động học và sự dung nạp. Các bệnh nhân nhi sau khi uống pregabalin ở tình trạng nhịn đói, thông thường, thời gian để đạt nồng độ đỉnh huyết tương thì tương tự ở các nhóm tuổi và xuất hiện sau khi uống 0,5 giờ đến 2 giờ. C max và AUC của pregabalin tăng tuyến tính với liều trong mỗi nhóm tuổi. AUC thấp hơn khoảng 30% ở bệnh nhân nhi dưới 30kg so với bệnh nhân ≥ 30 kg do độ thanh thải tăng 43% ở những bệnh nhân này. Thời gian bán thải cuối của pregabalin trung bình khoảng 3-4 giờ ở bệnh nhân nhi đến 6 tuổi và 4-6 giờ đối với bệnh nhân ≥ 7 tuổi. Phân tích dược động học quần thể cho thấy rằng độ thanh thải creatinin là biến số gây nhiễu đáng kể của độ thanh thải pregabalin đường uống, khối lượng cơ thể là biến số gây nhiễu đáng kể của thể tích phân bố biểu kiến pregabalin đường uống và điều này tương tự giữa bệnh nhân nhi và người lớn. Dược động học pregabalin ở bệnh nhân nhỏ hơn 3 tháng tuổi chưa được nghiên cứu. Người lớn tuổi Độ thanh thải pregabalin có xu hướng giảm ở bệnh nhân lớn tuổi. Việc giảm này là phù hợp với giảm độ thanh thải creatinin ở bệnh nhân lớn tuổi. Nên giảm liều pregabalin ở bệnh nhân lớn tuổi bị tổn thương chức năng thận.

Thành phần

Pregabalin 50mg

Cách dùng

Cách dùng Pregabalin có thể được dùng cùng hoặc không cùng với thức ăn. Pregabalin chỉ được sử dụng bằng đường uống. Liều dùng Khoảng liều từ 150 đến 600 mg mỗi ngày, được chia thành hai hoặc ba lần. Đau thần kinh Pregabalin có thể được khởi đầu với liều 150 mg mỗi ngày được chia thành hai hoặc ba lần. Dựa trên đáp ứng và khả năng dung nạp của từng bệnh nhân, có thể tăng liều lên đến 300 mg mỗi ngày sau 3-7 ngày, và nếu cần, có thể tăng đến liều tối đa 600 mg mỗi ngày sau 7 ngày kế tiếp. Động kinh Pregabalin có thể được khởi đầu với liều 150 mg mỗi ngày chia hai hoặc ba lần. Dựa trên đáp ứng và khả năng dung nạp của từng bệnh nhân, liều dùng có thể tăng lên đến 300 mg mỗi ngày sau 1 tuần. Liều tối đa 600mg mỗi ngày có thể đạt được sau tuần tiếp theo. Rối loạn lo âu lan tỏa Liều dùng từ 150 đến 600 mg mỗi ngày được chia thành hai hoặc ba lần. Sự cần thiết của việc điều trị nên được đánh giá lại thường xuyên. Pregabalin có thể được khởi đầu với liều 150 mg mỗi ngày. Dựa trên đáp ứng và khả năng dung nạp của từng bệnh nhân, liều dùng có thể tăng lên đến 300 mg mỗi ngày sau 1 tuần. Tuần sau đó, có thể tăng liều lên đến 450 mg mỗi ngày. Liều tối đa 600 mg mỗi ngày có thể đạt được sau một tuần nữa. Ngưng pregabalin Nếu cần phải ngưng dùng pregabalin, cần giảm liều từ từ trong vòng tối thiểu là 1 tuần, không phụ thuộc vào chỉ định. Bệnh nhân suy thận Pregabalin thải trừ qua thận dưới dạng không đổi. Vì độ thanh thải pregabalin tỷ lệ thuận với độ thanh thải creatinin, giảm liều ở những bệnh nhân tôn thương chức năng thận phải tùy theo từng cá nhân và theo độ thanh thải creatinin (CL cr ). Pregabalin được loại bỏ một cách hiệu quả từ huyết tương bằng cách lọc máu (50% thuốc trong 4 giờ). Đối với các bệnh nhân lọc máu, liều pregabalin hàng ngày nên được điều chỉnh dựa trên chức năng thận. Bên cạnh liều hàng ngày, một liều bổ sung nên được sử dụng ngay lập tức mỗi 4 giờ sau khi lọc máu (xem bảng dưới đây). Tổng liều hàng ngày* Chế độ liều Độ thanh thải creatinin (CL cr ) (ml/phút) Liều khởi đầu (mg/ngày) Liều tối đa (mg/ngày) ≥ 60 150 600 Hai hoặc 3 lần ≥ 30 - < 60 75 300 Hai hoặc 3 lần ≥ 15 - < 30 25 - 50 150 Một hoặc 2 lần < 15 25 75 Một lần Liều bổ sung sau lọc máu (mg) 25 100 Liều đơn** * Tổng liều hàng ngày (mg/ngày) nên được chia theo chế độ liều để thể hiện liều dùng mỗi lần. ** Liều bổ sung là liều đơn dùng sau lọc máu. Bảng điều chỉnh liều Pregabalin theo chức năng thận Bệnh nhân suy gan Không cần chỉnh liều ở bệnh nhân suy gan. Trẻ em Hiệu quả và an toàn của Pregabalin ở trẻ em dưới 12 tuổi và ở thanh thiếu niên (12-17 tuổi) chưa được nghiên cứu. Không khuyến cáo sử dụng ở nhóm đối tượng này. Bệnh nhân cao tuổi Bệnh nhân cao tuổi có thể cần giảm liều pregabalin do chức năng thận giảm (xem bệnh nhân suy thận). Lưu ý: Liều dùng trên chỉ mang tính chất tham khảo. Liều dùng cụ thể tùy thuộc vào thể trạng và mức độ diễn tiến của bệnh. Để có liều dùng phù hợp, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên viên y tế. Làm gì khi dùng quá liều? Theo các báo cáo trong quá trình lưu hành thuốc, các phản ứng thường gặp nhất được ghi nhận khi sử dụng quá liều pregabalin bao gồm ngủ gà, trạng thái lú lẫn, kích động và bồn chồn. Cơn co giật cũng đã được báo cáo. Các trường hợp hôn mê được báo cáo ở tỷ lệ hiếm. Điều trị quá liều pregabalin bao gồm các biện pháp hỗ trợ và có thể chạy thận nhân tạo nếu cần. Trong trường hợp khẩn cấp, hãy gọi ngay cho Trung tâm cấp cứu 115 hoặc đến trạm Y tế địa phương gần nhất. Làm gì khi quên 1 liều? Bổ sung liều ngay khi nhớ ra. Tuy nhiên, nếu thời gian giãn cách với liều tiếp theo quá ngắn thì bỏ qua liều đã quên và tiếp tục lịch dùng thuốc. Không dùng liều gấp đôi để bù cho liều đã bị bỏ lỡ.

Dữ liệu được ghi nhận vào 2026-08-28T04:04:51.422Z. Dược Hub cung cấp thông tin tham khảo, không bán thuốc trực tuyến và không thay thế tư vấn của bác sĩ hoặc dược sĩ. Giá thuốc và tồn kho không được công bố tại URL này.