Thuốc Ravenell-62.5mg Davipharm điều trị tăng áp lực động mạch phổi tiên phát (4 vỉ x 14 viên)
Thuốc Ravenell-62,5 là sản phẩm của Công ty Cổ phần Dược phẩm Đạt Vi Phú chứa hoạt chất Bosentan (dưới dạng Bosentan monohydrat) dùng điều trị tăng áp lực động mạch phổi (PAH) để cải thiện khả năng gắng sức và triệu chứng ở bệnh nhân độ III theo phân loại của WHO.
- Thương hiệu
- Davipharm
- Phân loại
- Thuốc kê đơn
- Số đăng ký
- 893110663524
- Quy cách/đơn vị
- Hộp
- Nhà sản xuất
- CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẠT VI PHÚ
Công dụng / chỉ định
Chỉ định Thuốc Ravenell-62,5 chỉ định điều trị tăng áp lực động mạch phổi (PAH) để cải thiện khả năng gắng sức và triệu chứng ở bệnh nhân độ III theo phân loại của WHO. Hiệu quả đã được chứng minh trong: Tăng áp lực động mạch phổi tiên phát (vô căn hoặc di truyền). Tăng áp lực động mạch phổi thứ phát do xơ cứng bì mà không có bệnh phổi kẽ nặng. Đã ghi nhận bosentan cho một số tác dụng cải thiện ở bệnh nhân bị tăng áp lực động mạch phổi độ II theo phân loại WHO. Bosentan cũng được chỉ định để giảm số lượng vết loét ngón tay/chân mới ở bệnh nhân xơ cứng bì toàn thể và vết loét ngón tay/chân đang tiến triển. Dược lực học Nhóm dược lý: Các thuốc chống tăng huyết áp khác Mã ATC: C02K X01 Bosentan là chất chủ vận receptor endothelin kép với ái lực trên cả thụ thể endothelin A và B (ETA và ETB). Bosentan làm giảm kháng lực mạch máu phổi và toàn thân dẫn đến làm tăng cung lượng tim mà không làm tăng nhịp tim. Các hormon thần kinh endothelin-1 (ET-1) là một trong những chất gây co mạch mạnh và có thể thúc đẩy xơ vữa, tăng sinh tế bào, phì đại và tái cấu trúc tim, và gây viêm. Các tác dụng qua trung gian bởi endothelin gắn kết thụ thể ETA và ETB nằm ở nội mô và tế bào cơ trơn mạch máu. Nồng độ ET-1 ở mô và huyết tương tăng lên ở một số bệnh tim mạch và các bệnh mô liên kết, bao gồm tăng áp lực động mạch phổi, xơ cứng bì, suy tim cấp tính và mạn tính, thiếu máu cục bộ cơ tim, tăng huyết áp hệ thống và xơ vữa động mạch, cho thấy vai trò bệnh học của ET-1 trong các bệnh này. Trong tăng áp động mạch phổi và suy tim, khi không có mặt chất đối kháng receptor endothelin, nồng độ ET-1 tăng lên liên quan chặt chẽ với mức độ nghiêm trọng và tiên lượng của các bệnh này. Bosentan cạnh tranh với ET-1 và các ET peptid khác trong việc gắn kết với thụ thể ETA và ETB. Ái lực với các thụ thể ETA ( K = 4,1 - 43 nanomol) hơi cao hơn so với các thụ thể ETB (K = 38 - 730 nanomol). Bosentan đối kháng chuyên biệt với các thụ thể ET và không gắn kết với các receptor khác. Dược động học Dược động học của bosentan nghiên cứu chủ yếu trên người khỏe mạnh. Dữ liệu lâm sàng còn hạn chế cho thấy nồng độ bosentan ở bệnh nhân người lớn bị tăng áp lực động mạch phổi cao hơn khoảng 2 lần so với người khỏe mạnh. Ở người khỏe mạnh, dược động học của bosentan phụ thuộc vào liều và thời gian. Thời gian bán thải và thể tích phân bố giảm khi tăng liều tiêm tĩnh mạch và tăng theo thời gian. Sau khi uống, phơi nhiễm toàn thân tỷ lệ thuận với liều lên đến 500 mg. Ở liều cao hơn, Cmax và AUC ít tỉ lệ thuận với liều dùng hơn. Hấp thụ Ở người khỏe mạnh, sinh khả dụng tuyệt đối khoảng 50% và không ảnh hưởng bởi thức ăn. Nồng độ huyết tương tối đa đạt được sau khoảng 3 - 5 giờ. Phân bố Bosentan gắn kết nhiều (> 98%) với protein huyết tương, chủ yếu albumin. Bosentan không xâm nhập vào hồng cầu. Thể tích phân bố (Vss) khoảng 18 lít sau khi tiêm tĩnh mạch một liều 250 mg. Chuyển hóa và thải trừ Sau khi tiêm tĩnh mạch một liều 250 mg, độ thanh thải là 8,2 l/h. Thời gian bán thải tận cùng là 5,4 giờ. Sau khi sử dụng đa liều, nồng độ huyết tương của bosentan giảm dần xuống còn 50 - 65% so với sử dụng đơn liều. Việc giảm nỗng độ này có thể là do sự cảm ứng tự động của enzym chuyển hóa ở gan. Trạng thái ổn định đạt được sau 3 - 5 ngày. Bosentan được thải trừ qua mật sau khi được chuyển hóa ở gan bởi các isoenzym CYP450, CYP2C9 và CYP3A4. Ít hơn 3% của liều uống thải trừ qua nước tiểu. Bosentan có 3 chất chuyển hóa và chỉ có 1 trong số này có hoạt tính dược lý. Chất chuyển hóa này được thải trừ chủ yếu không đổi qua mật. Ở bệnh nhân người lớn, lượng chất chuyển hóa có hoạt tính nhiều hơn so với người khỏe mạnh. Ở bệnh nhân có bằng chứng và sự hiện diện của ứ mật, lượng chất chuyển hóa có hoạt tính có thể tăng lên. Bosentan là chất cảm ứng của CYP2ch và CYP3A4 và cũng các thể của CYP2C19 và P-glycoprotein. In vitro, bosentan ức chế tiết muối mật trong các tế bào gan. Dữ liệu in vitro cho thấy bosentan không có tác dụng ức chế với các isoenzym thử nghiệm (CYP1A2, 246, 2B6, 2C8, 2C9, 2D6, 2E1, 3A4). Do đó, bosentan không làm tăng nồng độ huyết tương của các thuốc chuyển hóa bởi các isoenzym này. Dược động học trên đối tượng đặc biệt Bệnh nhân suy gan Ở bệnh nhân suy gan nhẹ (Child-Pugh A), không có sự thay đổi dược động học. AUC ở trạng thái ổn định của bosentan cao hơn 9%, và AUC của chất chuyển hóa có hoạt tính cao hơn 33% ở bệnh nhân suy gan nhẹ so với bệnh nhân khỏe mạnh. Chưa có nghiên cứu dược động học ở bệnh nhân suy gan nặng (Child-Pugh C). Bosentan bị chống chỉ định cho bệnh nhân suy gan vừa và nặng (Child-Pugh B/C). Bệnh nhân suy thận Ở bệnh nhân bị suy thận nặng (độ thanh thải creatinin 15 - 30 ml/ phút), nồng độ bosentan giảm khoảng 10%. Nồng độ huyết tương chất chuyển hóa của bosentan tăng khoảng 2 lần ở bệnh nhân suy thận so với người chức năng thận bình thường. Không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận. Không có kinh nghiệm lâm sàng chuyên biệt ở bệnh nhân thẩm phân máu. Dựa trên đặc tính hóa lý và khả năng gắn kết protein cao, bosentan không thể loại ra khỏi tuần hoàn bằng phương pháp lọc máu.
Thành phần
Bosentan 62.5mg
Cách dùng
Cách dùng Thuốc Ravenell-62,5 được sử dụng đường uống, uống vào buổi sáng hoặc chiều, có thể cùng hoặc không cùng với thức ăn. Viên nén bao phim nên được uống nguyên viên với nước. Liều dùng Tăng áp lực động mạch phổi Chỉ nên bắt đầu điều trị và theo dõi bởi bác sĩ có kinh nghiệm điều trị tăng áp lực động mạch phổi. Người lớn Ở người lớn trưởng thành, nên bắt đầu điều trị bosentan với liều 62,5 mg x 2 lần/ngày trong vòng 4 tuần và sau đó tăng lên liều duy trì 125 mg x 2 lần/ ngày. Áp dụng liều tương tự khi sử dụng lại bosentan sau khi tạm ngừng điều trị. Trẻ em Dữ liệu dược động học trên trẻ em cho thấy nồng độ bosentan huyết tương ở trẻ em từ 1 - 15 tuổi bị PAH có giá trị trung bình thấp hơn so với người trưởng thành, và nồng độ không tăng lên khi tăng liều bosentan đến 2 mg/ kg cân nặng, hoặc tăng tần suất sử dụng từ 2 lên 3 lần/ngày. Tăng liều hay tần suất sử dụng dường như không làm tăng thêm lợi ích trên lâm sàng. Dựa trên các kết quả dược động học này, khi sử dụng cho trẻ em bị PAH từ 1 tuổi trở lên, liều khởi đầu khuyến cáo và duy trì là 2 mg/kg vào buổi sáng và tối. Ở trẻ sơ sinh bị tăng áp lực phổi kéo dài (PPHN), chưa chứng minh được lợi ích của việc sử dụng bosentan trong điều trị. Không có liều khuyến cáo cho đối tượng bệnh nhân này. Tình trạng lâm sàng xấu đi Trong trường hợp bệnh nặng hơn (ví dụ: Giảm 10% khoảng cách đi bộ 6 phút so với kết quả trước khi điều trị) mặc dù đã điều trị với bosentan ít nhất 8 tuần (liều mục tiêu ít nhất 4 tuần), cân nhắc các phương pháp điều trị khác. Tuy nhiên, một vài bệnh nhân không có kết quả điều trị sau 8 tuần sử dụng bosentan có thể có kết quả sau khi điều trị thêm 4 tuần hoặc 8 tuần điều trị nữa. Trong trường hợp tình trạng lâm sàng nặng hơn xuất hiện muộn mặc dù đã điều trị với bosentan (ví dụ: Sau nhiều tháng điều trị), nên đánh giá lại điều trị. Một vài bệnh nhân không đáp ứng tốt với liều 125 mg x 2 lần/ngày có thể cải thiện dung tích sống gắng sức khi tăng liều lên 250 mg x 2 lần/ngày. Đánh giá lợi ích/nguy cơ cẩn thận, khả năng độc với gan phụ thuộc vào liều. Ngừng điều trị Dữ liệu lâm sàng còn hạn chế khi ngừng đột ngột bosentan ở bệnh nhân tăng áp lực động mạch phổi. Không có bằng chứng cho thấy phản ứng dội ngược cấp tính. Tuy nhiên, để tránh tình trạng lâm sàng nặng hơn do khả năng phản ứng dội ngược, nên cân nhắc giảm liều từ từ (giảm % liều trong thời gian 3 đến 7 ngày). Theo dõi chặt chẽ hơn trong suốt thời gian ngừng điều trị. Nếu quyết định ngừng sử dụng bosentan, nên ngừng từ từ trong khi dùng một thuốc khác thay thế. Xơ cứng bì toàn thể với loét ngón tay/chân đang tiến triển Chỉ nên bắt đầu điều trị và được theo dõi bởi bác sĩ có kinh nghiệm điều trị xơ cứng bì toàn thể. Người lớn Ở người lớn trưởng thành, nên bắt đầu điều trị bosentan với liều 62,5 mg x 2 lần/ngày trong vòng 4 tuần và sau đó tăng lên liều duy trì 125 mg x 2 lần/ngày. Áp dụng liều tương tự khi sử dụng lại bosentan sau khi tạm ngừng điều trị. Nghiên cứu lâm sàng cho chỉ định này chỉ giới hạn trong thời gian 6 tháng. Đánh giá đáp ứng của bệnh nhân và việc cần thiết tiếp tục điều trị. Cần cân nhắc lợi ích/nguy cơ, cân nhắc khả năng gây độc gan của bosentan. Trẻ em Không có dữ liệu về an toàn và hiệu quả cho bệnh nhân dưới 18 tuổi. Không có dữ liệu dược động học sử dụng bosentan cho trẻ em dưới 18 tuổi bị bệnh này. Đối tượng đặc biệt Bệnh nhân suy gan Bosentan bị chống chỉ định với bệnh nhân suy gan trung bình và nặng. Không cần thiết điều chỉnh liều với bệnh nhân bị suy gan nhẹ (Child-Pugh A). Bệnh nhân suy thận Không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận và bệnh nhân đang thẩm phân máu. Người cao tuổi Không cần điều chỉnh liều cho bệnh nhân trên 65 tuổi. Lưu ý: Liều dùng trên chỉ mang tính chất tham khảo. Liều dùng cụ thể tùy thuộc vào thể trạng và mức độ diễn tiến của bệnh. Để có liều dùng phù hợp, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên viên y tế. Làm gì khi dùng quá liều? Bosentan đã được sử dụng với liều duy nhất lên đến 2.400 mg ở người khỏe mạnh và 2.000 mg/ ngày trong 2 tháng ở bệnh nhân chỉ tăng áp lực động mạch phổi. Tác dụng không mong muốn thường gặp là đau đầu nhẹ đến vừa. Quá liều bosentan có thể dẫn đến hạ huyết áp rõ rệt cần phải hỗ trợ tim mạch tích cực. Đã có báo cáo bệnh nhân nam ở tuổi thanh thiếu niên sử dụng 10.000 mg bosentan. Bệnh nhân có triệu chứng buồn nôn, nôn, hạ huyết áp, chóng mặt, ra mồ hôi và nhìn mờ. Bệnh nhân hồi phục hoàn toàn trong vòng 24 giờ nhờ vào hỗ trợ huyết áp. Bosentan không thể loại bằng phương pháp lọc máu. Trong trường hợp khẩn cấp, hãy gọi ngay cho Trung tâm cấp cứu 115 hoặc đến trạm Y tế địa phương gần nhất. Làm gì khi quên 1 liều? Bổ sung liều ngay khi nhớ ra. Tuy nhiên, nếu thời gian giãn cách với liều tiếp theo quá ngắn thì bỏ qua liều đã quên và tiếp tục lịch dùng thuốc. Không dùng liều gấp đôi để bù cho liều đã bị bỏ lỡ.
Lưu ý và cảnh báo
Những điều cần lưu ý khi sử dụng Người dùng cần đọc kỹ hướng dẫn sử dụng và tham khảo các thông tin chi tiết dưới đây trước khi dùng thuốc. Trường hợp không nên sử dụng Chế phẩm Ravenell-62,5 không được phép sử dụng cho các đối tượng sau: Người có tiền sử dị ứng hay quá mẫn với Bosentan hoặc bất kỳ tá dược nào trong công thức. Bệnh nhân bị suy giảm chức năng gan mức độ trung bình đến nặng (phân loại Child-Pugh B hoặc C). Người có chỉ số enzym aminotransferase gan (như AST, ALT) vượt quá 3 lần giới hạn bình thường trên. Người đang điều trị bằng cyclosporin A. Phụ nữ đang trong thai kỳ. Nữ giới có khả năng thụ thai nhưng không áp dụng các biện pháp tránh thai có độ tin cậy cao. Cảnh báo và thận trọng Hiệu quả lâm sàng của Bosentan đối với người bị tăng áp lực động mạch phổi giai đoạn nặng vẫn chưa được xác định đầy đủ. Trong trường hợp diễn tiến bệnh xấu đi, việc chuyển sang các liệu pháp thay thế khác (chẳng hạn như epoprostenol) được khuyến cáo. Tính cân bằng giữa lợi ích và nguy cơ khi dùng Bosentan cho bệnh nhân thuộc độ I (theo hệ thống phân loại chức năng phổi của WHO trong tăng áp lực động mạch phổi) hiện chưa có đầy đủ dữ liệu đánh giá. Chỉ khởi đầu liệu pháp này khi chỉ số huyết áp tâm thu toàn thể của người bệnh đạt trên 85 mmHg. Khả năng hỗ trợ làm lành các vết loét ở đầu ngón tay hiện có của Bosentan chưa được chứng minh. Chức năng gan Hiện tượng tăng nồng độ aminotransferase gan (như AST, ALT) do tác động của Bosentan có liên quan trực tiếp đến liều lượng sử dụng. Sự dao động của các enzym này thường xuất hiện trong 26 tuần đầu của liệu trình, tuy nhiên cũng có thể xảy ra muộn hơn. Cơ chế gây tăng enzym gan có thể xuất phát từ việc cạnh tranh ức chế quá trình đào thải muối mật tại tế bào gan, hoặc do các con đường sinh lý bệnh khác chưa được làm rõ, có nguy cơ dẫn đến suy giảm chức năng gan. Việc tích tụ Bosentan trong tế bào gan có thể gây hoại tử tế bào, dẫn đến tổn thương gan nghiêm trọng, hoặc không loại trừ các phản ứng miễn dịch dị ứng. Nguy cơ độc gan có thể gia tăng khi dùng đồng thời với các chất ức chế bơm xuất khẩu muối mật (như rifampicin, glibenclamid hay cyclosporin A), dù các dữ liệu thực tế còn hạn chế. Việc kiểm tra nồng độ aminotransferase gan cần được thực hiện trước khi bắt đầu liệu trình và duy trì định kỳ hàng tháng. Đồng thời, chỉ số này cũng cần được đánh giá lại sau khi tăng liều 2 tuần. Hướng dẫn xử trí khi chỉ số AST/ALT gia tăng: Trường hợp AST/ALT tăng từ 3 đến 5 lần giới hạn bình thường trên: Cần tiến hành xét nghiệm máu lần hai để xác thực kết quả. Nếu chỉ số chính xác, bác sĩ sẽ dựa trên đáp ứng của từng người để quyết định giảm liều hoặc tạm ngừng dùng Bosentan . Tần suất theo dõi nồng độ aminotransferase phải được duy trì tối thiểu 2 tuần một lần. Khi các chỉ số này quay về mức ban đầu trước điều trị, có thể cân nhắc cho người bệnh dùng lại thuốc. Trường hợp AST/ALT tăng từ 5 đến 8 lần giới hạn bình thường trên: Cần xét nghiệm kiểm tra lần hai để xác định. Nếu kết quả chính xác, phải dừng ngay việc dùng thuốc và theo dõi sát chỉ số aminotransferase ít nhất mỗi 2 tuần. Việc tái khởi động liệu trình chỉ được xem xét khi enzym gan trở lại mức bình thường trước đó. Trường hợp AST/ALT vượt quá 8 lần giới hạn bình thường trên: Yêu cầu ngừng thuốc ngay lập tức và tuyệt đối không cho người bệnh sử dụng lại Bosentan . Nếu xuất hiện các biểu hiện lâm sàng nghi ngờ tổn thương gan như buồn nôn, nôn mửa, sốt, đau vùng bụng, vàng da, mệt mỏi bất thường, lơ mơ, hoặc các triệu chứng giả cúm (đau mỏi cơ khớp, sốt), người bệnh phải dừng thuốc ngay và không được phép dùng lại. Nguyên tắc khi dùng lại thuốc: Việc tái điều trị chỉ được đặt ra khi lợi ích lâm sàng vượt trội hơn hẳn các rủi ro và nồng độ aminotransferase đã phục hồi về mức an toàn trước điều trị, đồng thời có sự tham vấn từ chuyên gia gan mật. Liều dùng lại phải tuân thủ đúng hướng dẫn. Cần xét nghiệm enzym gan vào ngày thứ 3 sau khi uống lại thuốc, kiểm tra tiếp sau 2 tuần, và sau đó duy trì theo dõi định kỳ như khuyến cáo trên. Nồng độ haemoglobin Liệu pháp Bosentan có thể gây giảm lượng haemoglobin trong máu phụ thuộc vào liều dùng. Theo các thử nghiệm lâm sàng đối chứng với giả dược, sự sụt giảm này thường tự giới hạn và đi vào ổn định sau khoảng 4 đến 12 tuần điều trị. Việc xét nghiệm haemoglobin cần được thực hiện trước khi bắt đầu, duy trì mỗi tháng một lần trong 4 tháng đầu, và sau đó giãn ra mỗi 3 tháng. Nếu phát hiện mức haemoglobin giảm mạnh có ý nghĩa lâm sàng, cần tiến hành thăm khám chuyên sâu để xác định nguyên nhân và áp dụng biện pháp can thiệp phù hợp. Thực tế đã ghi nhận một số ca thiếu máu nặng đòi hỏi phải truyền khối hồng cầu. Thuyên tắc tĩnh mạch phổi Hiện tượng phù phổi cấp đã được ghi nhận khi dùng các thuốc giãn mạch (đặc biệt là nhóm prostacyclin) cho người bị bệnh tắc nghẽn tĩnh mạch phổi. Vì vậy, nếu bệnh nhân tăng áp lực động mạch phổi xuất hiện dấu hiệu phù phổi trong quá trình dùng Bosentan , cần nghi ngờ khả năng đồng mắc bệnh lý thuyên tắc tĩnh mạch phổi. Thực tế lâm sàng đã có báo cáo về các ca phù phổi ở nhóm đối tượng này. Bệnh nhân tăng áp lực phổi kèm suy chức năng thất trái Chưa có nghiên cứu chuyên biệt trên nhóm đối tượng đồng thời mắc hai bệnh lý này. Khuyến cáo người bệnh cần tự theo dõi các biểu hiện tích lũy dịch trong cơ thể (như tăng cân nhanh), nhất là ở những người bị suy giảm chức năng tâm thu nặng. Khi xảy ra tình trạng này, cần chỉ định thêm hoặc tăng liều lượng thuốc lợi tiểu đang dùng. Việc kiểm soát tình trạng giữ dịch bằng thuốc lợi tiểu nên được thực hiện trước khi bắt đầu dùng Bosentan . Bệnh nhân tăng áp lực động mạch phổi đồng nhiễm HIV Dữ liệu lâm sàng về việc dùng Bosentan cho người bệnh tăng áp lực động mạch phổi nhiễm HIV đang điều trị bằng các thuốc kháng virus (ARV) còn rất hạn chế. Thử nghiệm tương tác ở người khỏe mạnh cho thấy khi phối hợp với lopinavir + ritonavir, nồng độ Bosentan trong huyết tương tăng mạnh, đạt đỉnh trong 4 ngày đầu. Do đó, khi bắt đầu dùng Bosentan cho người đang uống các chất ức chế protease, cần giám sát chặt chẽ khả năng dung nạp, nguy cơ tụt huyết áp và chức năng gan của họ. Nguy cơ độc gan lâu dài và các biến cố bất lợi trên hệ tạo máu khi phối hợp Bosentan với các thuốc kháng retrovirus vẫn chưa thể loại trừ. Do Bosentan có khả năng gây cảm ứng hệ enzym CYP450, làm giảm hiệu lực của các thuốc kháng virus, việc theo dõi sát tình trạng nhiễm HIV của người bệnh là rất cần thiết. Tăng áp lực phổi thứ phát do bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) Độ an toàn và khả năng dung nạp của thuốc đã được đánh giá qua một nghiên cứu không đối chứng kéo dài 12 tuần trên 11 bệnh nhân tăng áp lực phổi thứ phát do COPD mức độ nặng (giai đoạn III theo phân loại GOLD). Kết quả ghi nhận có sự gia tăng thông khí và giảm độ bão hòa oxy máu; tác dụng phụ phổ biến nhất là khó thở và triệu chứng này tự hết sau khi ngừng dùng Bosentan . Cảnh báo về tá dược Sản phẩm Ravenell-62,5 chứa thành phần dầu thầu dầu, có thể gây ra các phản ứng phụ trên đường tiêu hóa như đau bụng, tiêu chảy, buồn nôn hoặc nôn mửa. Tránh xa tầm tay của trẻ em. Ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc Chưa có các thử nghiệm lâm sàng chuyên biệt đánh giá tác động của thuốc lên nhóm đối tượng này. Tuy nhiên, tác dụng hạ huyết áp của Bosentan có thể gây ra các triệu chứng như chóng mặt hoặc ngất xỉu, làm suy giảm khả năng tập trung khi lái xe hoặc vận hành máy móc. Sử dụng thuốc cho phụ nữ trong thời kỳ mang thai và cho con bú Thời kỳ mang thai: Các thử nghiệm trên động vật đã chứng minh thuốc có độc tính đối với quá trình sinh sản (gây dị tật thai nhi, độc cho phôi). Chưa có dữ liệu lâm sàng đầy đủ và tin cậy trên phụ nữ mang thai. Nguy cơ đối với thai nhi ở người chưa được xác định rõ. Chống chỉ định tuyệt đối việc dùng Bosentan cho thai phụ. Phụ nữ có khả năng thụ thai: Bosentan có thể làm giảm hoặc mất hiệu lực của các biện pháp tránh thai bằng nội tiết tố, dẫn đến nguy cơ mang thai ngoài ý muốn, làm trầm trọng thêm tình trạng tăng áp lực phổi trong thai kỳ và có nguy cơ gây quái thai (như đã ghi nhận ở động vật). Chỉ được phép khởi đầu điều trị bằng Bosentan cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ khi họ đã áp dụng biện pháp tránh thai đáng tin cậy và có kết quả xét nghiệm thử thai âm tính trước đó. Không được sử dụng các biện pháp tránh thai dạng hormone làm phương pháp ngừa thai duy nhất trong suốt thời gian dùng thuốc. Cần thực hiện xét nghiệm thử thai định kỳ hàng tháng để phát hiện sớm việc mang thai. Thời kỳ cho con bú: Chưa rõ khả năng bài tiết của Bosentan vào sữa mẹ. Khuyến cáo không dùng thuốc này cho người đang nuôi con bằng sữa mẹ. Khả năng sinh sản: Nghiên cứu thực nghiệm trên động vật cho thấy thuốc có tác động xấu đến tinh hoàn. Trong một nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của Bosentan lên chức năng tinh hoàn ở nam giới bị tăng áp lực động mạch phổi, có 8 trong số 24 bệnh nhân bị sụt giảm mật độ tinh trùng tới 42% so với ban đầu sau thời gian 3 hoặc 6 tháng dùng thuốc. Dựa trên các dữ liệu tiền lâm sàng này, nguy cơ giảm số lượng tinh trùng ở nam giới khi dùng thuốc là không thể loại trừ. Đối với trẻ em nam, thuốc có thể gây ra những ảnh hưởng lâu dài hơn đối với khả năng sinh sản sau này. Tương tác với thuốc khác Bosentan hoạt động như một chất gây cảm ứng các enzym cytochrom P450 (CYP) gồm CYP3A4 và CYP2C9. Các thử nghiệm in vitro cũng cho thấy khả năng cảm ứng đối với CYP2C19. Do đó, nồng độ trong máu của các thuốc được chuyển hóa bởi các enzym này sẽ bị sụt giảm khi dùng chung, làm thay đổi hiệu quả điều trị của chúng. Cần xem xét điều chỉnh liều lượng của các thuốc phối hợp khi bắt đầu, thay đổi liều hoặc ngừng dùng Bosentan . Bản thân Bosentan được chuyển hóa qua trung gian CYP2C9 và CYP3A4. Việc ức chế các enzym này sẽ làm tăng lượng Bosentan trong cơ thể. Tác động của các chất ức chế CYP2C9 đơn độc lên nồng độ thuốc chưa được nghiên cứu đầy đủ, cần thận trọng khi phối hợp. Fluconazol và các chất ức chế đồng thời CYP2C9 và CYP3A4 Việc phối hợp với fluconazol (chất ức chế mạnh CYP2C9 và ức chế một phần CYP3A4) có thể làm tăng mạnh nồng độ Bosentan trong huyết tương. Sự phối hợp này không được khuyến cáo. Tương tự, không nên dùng chung Bosentan với các thuốc ức chế đồng thời CYP3A4 (như ketoconazol, itraconazol, ritonavir) và CYP2C9 (như voriconazol). Cyclosporin A Chống chỉ định phối hợp Bosentan với cyclosporin A (một chất ức chế calcineurin). Khi dùng đồng thời, nồng độ đáy ban đầu của Bosentan tăng vọt khoảng 30 lần so với khi dùng đơn trị. Ở trạng thái cân bằng ổn định, nồng độ Bosentan trong huyết tương vẫn cao hơn khoảng 3 đến 4 lần. Cơ chế của sự tương tác này là do cyclosporin A ức chế quá trình vận chuyển và hấp thu Bosentan vào tế bào gan thông qua các protein vận chuyển. Tacrolimus, sirolimus Chưa có nghiên cứu trực tiếp về việc phối hợp tacrolimus hoặc sirolimus với Bosentan . Tuy nhiên, dựa trên dữ liệu từ cyclosporin A, việc dùng chung có thể làm tăng nồng độ Bosentan trong máu, đồng thời làm giảm nồng độ của tacrolimus và sirolimus. Do đó, không khuyến cáo phối hợp các thuốc này. Nếu bắt buộc phải dùng chung, cần giám sát chặt chẽ các phản ứng phụ và nồng độ các thuốc trong máu. Glibenclamid Khi dùng chung Bosentan liều 125 mg với tần suất 2 lần mỗi ngày trong 5 ngày, nồng độ glibenclamid (một cơ chất của CYP3A4) trong huyết tương bị giảm 40% , có khả năng làm suy giảm mạnh hiệu quả kiểm soát đường huyết. Đồng thời, nồng độ của Bosentan cũng bị sụt giảm 29% . Thêm vào đó, việc phối hợp này làm tăng tỷ lệ bệnh nhân bị tăng enzym aminotransferase gan do cả hai hoạt chất đều gây ức chế bơm xuất khẩu muối mật. Tránh phối hợp hai thuốc này. Hiện chưa có dữ liệu tương tác với các thuốc nhóm sulfonylurea khác. Rifampicin Thử nghiệm trên 9 tình nguyện viên khỏe mạnh dùng phối hợp Bosentan liều 125 mg với tần suất 2 lần /ngày cùng với rifampicin (chất cảm ứng mạnh CYP2C9 và CYP3A4) cho thấy nồng độ Bosentan trong huyết tương giảm 58% , một số trường hợp giảm sâu tới gần 90% . Điều này làm mất đi đáng kể tác dụng điều trị của Bosentan . Không khuyến cáo dùng chung rifampicin với Bosentan . Dù chưa có dữ liệu đầy đủ với các chất cảm ứng CYP3A4 khác như carbamazepin, phenobarbital, phenytoin hay cỏ St. John, việc phối hợp cũng có thể làm giảm nồng độ và hiệu lực lâm sàng của Bosentan . Lopinavir + ritonavir (và các chất ức chế protease được tăng cường bằng ritonavir khác) Nghiên cứu phối hợp Bosentan liều 125 mg dùng 2 lần /ngày cùng lopinavir + ritonavir liều 400 + 100 mg dùng 2 lần /ngày trong 9,5 ngày ở người khỏe mạnh cho thấy nồng độ đáy ban đầu của Bosentan tăng gấp 48 lần so với khi dùng đơn độc. Đến ngày thứ 9, nồng độ Bosentan huyết tương vẫn cao hơn khoảng 5 lần . Tương tác này xảy ra do ritonavir ức chế kênh vận chuyển protein đưa thuốc vào tế bào gan và ức chế CYP3A4, làm giảm độ thanh thải của Bosentan . Cần theo dõi sát khả năng dung nạp của người bệnh khi phối hợp các thuốc này. Ngược lại, sau 9,5 ngày dùng chung, nồng độ lopinavir giảm 14% và ritonavir giảm 17% . Mức độ sụt giảm này có thể tiếp tục tăng lên khi Bosentan đạt trạng thái cảm ứng enzym hoàn toàn. Khuyến cáo giám sát chặt chẽ hiệu quả điều trị HIV. Tương tác tương tự có thể xảy ra với các chất ức chế protease khác. Các thuốc kháng retrovirus khác Chưa có khuyến cáo cụ thể do thiếu dữ liệu lâm sàng. Tránh phối hợp với nevirapin do nguy cơ cộng lực gây độc cho gan của cả hai hoạt chất. Thuốc tránh thai nội tiết Dùng đồng thời Bosentan liều 125 mg với tần suất 2 lần /ngày trong 7 ngày cùng một liều thuốc tránh thai chứa norethisteron 1 mg + ethinyl estradiol 35 mcg làm giảm AUC của norethisteron 14% và ethinyl estradiol 31% . Ở một số cá thể, mức giảm có thể lên tới 56% và 66% . Vì vậy, các biện pháp tránh thai bằng hormone (dù qua đường uống, tiêm, dán hay cấy dưới da) đều không được coi là phương pháp ngừa thai an toàn khi đang điều trị bằng Bosentan . Warfarin Phối hợp Bosentan liều 500 mg với tần suất 2 lần /ngày trong 6 ngày làm giảm nồng độ huyết tương của S-warfarin (cơ chất CYP2C9) 29% và R-warfarin (cơ chất CYP3A4) 38% . Tuy nhiên, thực tế lâm sàng ở bệnh nhân tăng áp lực động mạch phổi không ghi nhận sự thay đổi đáng kể về chỉ số INR hay liều lượng warfarin phải sử dụng. Tần suất biến cố phụ và việc chỉnh liều tương đương giữa nhóm dùng phối hợp và nhóm dùng giả dược. Không cần điều chỉnh liều khởi đầu của các thuốc chống đông đường uống, nhưng cần giám sát chặt chẽ chỉ số INR, đặc biệt là khi bắt đầu hoặc thay đổi liều Bosentan . Simvastatin Dùng chung Bosentan liều 125 mg với tần suất 2 lần /ngày trong 5 ngày làm giảm nồng độ simvastatin (cơ chất CYP3A4) 34% và chất chuyển hóa hoạt tính beta-hydroxy acid của nó 46% . Nồng độ Bosentan không bị ảnh hưởng bởi simvastatin. Cần theo dõi lượng cholesterol máu để điều chỉnh liều simvastatin nếu cần. Ketoconazol Sử dụng Bosentan liều 62,5 mg (hoặc 62.5mg ) với tần suất 2 lần /ngày trong 6 ngày cùng với ketoconazol (chất ức chế CYP3A4) làm tăng nồng độ Bosentan lên khoảng 2 lần . Không cần thiết phải điều chỉnh liều Bosentan . Tác động tương tự có thể xảy ra với các chất ức chế CYP3A4 khác (như itraconazol, ritonavir). Ở những bệnh nhân có hoạt tính enzym CYP2C9 kém di truyền, nguy cơ tăng nồng độ Bosentan và gặp tác dụng phụ sẽ cao hơn khi phối hợp với chất ức chế CYP3A4. Epoprostenol Các thông số dược động học (Cmax và AUC) của Bosentan (dù dùng đơn liều hay đa liều) không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa nhóm bệnh nhân có hoặc không truyền liên tục epoprostenol. Sildenafil Dùng đồng thời Bosentan liều 125 mg với tần suất 2 lần /ngày cùng sildenafil liều 80 mg với tần suất 3 lần /ngày trong 6 ngày ở trạng thái ổn định làm giảm 63% AUC của sildenafil và giảm 50% AUC của Bosentan . Cần thận trọng khi phối hợp hai hoạt chất này. Digoxin Dùng chung Bosentan liều 500 mg với tần suất 2 lần /ngày cùng digoxin trong 7 ngày làm giảm AUC của digoxin 12% , giảm Cmax 9% và giảm Cmin 23% . Tương tác này được cho là do sự cảm ứng p-glycoprotein và ít có ý nghĩa trên lâm sàng.
Mô tả chi tiết
Thuốc Ravenell-62.5 Davipharm là gì? Hoạt chất Bosentan (tồn tại dưới dạng Bosentan monohydrat) là thành phần chính có trong thuốc Ravenell-62,5, một dược phẩm được sản xuất bởi Công ty Cổ phần Dược phẩm Đạt Vi Phú. Chỉ định điều trị Sản phẩm này được chỉ định cho những đối tượng gặp tình trạng tăng áp lực động mạch phổi (PAH) thuộc độ III dựa trên hệ thống phân loại từ WHO. Việc sử dụng thuốc nhằm mục đích: Gia tăng khả năng vận động và gắng sức của cơ thể. Giảm thiểu cũng như cải thiện các biểu hiện lâm sàng của bệnh lý.
Dữ liệu được ghi nhận vào 2026-08-28T04:04:51.422Z. Dược Hub cung cấp thông tin tham khảo, không bán thuốc trực tuyến và không thay thế tư vấn của bác sĩ hoặc dược sĩ. Giá thuốc và tồn kho không được công bố tại URL này.