Thuốc Roticox 90mg Krka giảm triệu chứng bệnh viêm xương khớp, viêm cột sống (3 vỉ x 10 viên)
Roticox 90mg là sản phẩm của KRKA, D.D., Novo Mesto với thành phần chính là Etoricoxib. Thuốc Roticox 90mg có tác dụng giảm triệu chứng bệnh viêm xương khớp (OA), viêm khớp dạng thấp (RA), viêm cột sống dính khớp, điều trị triệu chứng đau và các dấu hiệu viêm nhiễm trong trường hợp gout cấp tính.
- Thương hiệu
- Krka
- Phân loại
- Thuốc kê đơn
- Số đăng ký
- 383110131224
- Quy cách/đơn vị
- Hộp
- Nhà sản xuất
- KRKA
Công dụng / chỉ định
Chỉ định Roticox được chỉ định ở người trưởng thành và thanh thiếu niên 16 tuổi trở lên để làm giảm triệu chứng bệnh viêm xương khớp (OA), viêm khớp dạng thấp (RA), viêm cột sống dính khớp, điều trị triệu chứng đau và các dấu hiệu viêm nhiễm trong trường hợp gout cấp tính. Roticox được chỉ định ở người lớn và thanh thiếu niên 16 tuổi trở lên để điều trị ngắn hạn các cơn đau vừa, liên quan đến phẫu thuật răng. Quyết định kê đơn chất ức chế chọn lọc COX-2 phải dựa trên việc đánh giá toàn bộ các nguy cơ đối với từng bệnh nhân. Dược lực học Nhóm dược lý : Nhóm kháng viêm không steroid (NSAID), mã ATC: M01AH05. Cơ chế tác dụng Etoricoxib dùng đường uống, là chất ức chế chọn lọc cyclo-oxygenase-2 (COX-2) trong phạm vi liều dùng trên lâm sàng. Trong các nghiên cứu dược lý lâm sàng, etoricoxib ức chế COX-2 mà không ức chế COX-1 với liều lên đến 150 mg mỗi ngày. Etoricoxib không ức chế sự tổng hợp prostaglandin dạ dày và không ảnh hưởng đến chức năng tiểu cầu. Cyclooxygenase chịu trách nhiệm tạo ra prostaglandin. Đã xác định được [Giá cần đăng nhập] dạng cyclooxygenase: Cyclooxygenase-1 (COX-1) và cyclooxygenase-2 (COX-2). COX-2 là dạng đồng vị của enzyme mà nó được cho là có trách nhiệm chủ yếu trong tổng hợp các trung gian nhóm prostanoid liên quan tới đau, viêm và sốt. COX-2 cũng liên quan đến việc rụng trứng, quá trình làm tổ của trứng và việc đóng ống động mạch, điều chỉnh chức năng thận và các chức năng của hệ thần kinh trung ương (khởi phát sốt, cảm giác đau và chức năng nhận thức). Nó cũng có thể đóng vai trò trong quá trình làm lành vết loét. COX-2 đã được tìm thấy trong các mô xung quanh những vết loét dạ dày ở người nhưng sự liên quan của nó với quá trình lành vết loét chưa được biết tới. Hiệu quả lâm sàng và an toàn: Hiệu quả: Đối với những bệnh nhân viêm xương khớp, liều etoricoxib 60 mg một lần mỗi ngày đem lại cải thiện rõ rệt những cơn đau và đánh giá về tình trạng bệnh tật của bệnh nhân. Những tác dụng có lợi này đã được quan sát thấy ngay vào ngày thứ hai của liệu trình điều trị và duy trì tới 52 tuần. Những nghiên cứu với etoricoxib liều 30mg một lần mỗi ngày cho thấy hiệu quả cao hơn giả dược trong 12 tuần điều trị (sử dụng phương pháp đánh giá tương tự như những nghiên cứu ở trên). Trong một nghiên cứu về liều, etoricoxib 60mg chứng minh có sự cải thiện đáng kể hơn liều 30mg đối với tất cả 3 primary endpoints trong 6 tuần điều trị. Liều 30mg không được nghiên cứu trong viêm xương khớp bàn tay. Ở những bệnh nhân viêm khớp dạng thấp, cả etoricoxib 60 mg và 90 mg một lần hàng ngày đều có những cải thiện đáng kể về đau, viêm và cử động. Trong những nghiên cứu đánh giá liều 60mg và 90mg, những tác dụng có lợi này được duy trì trong thời gian điều trị 12 tuần. Trong một nghiên cứu sử dụng ngày một lần liều 60 mg so với liều 90mg, cả hai liều đều hiệu quả hơn giả dược. Liều 90 mg mạnh hơn liều 60mg theo đánh giá toàn thể về đau của bệnh nhân (thu thập bằng phương pháp thị giác với giác thang từ 0 đến 100 mm), với sự cải thiện trung bình là 2,71mm (95% Cl: -4,98 mm, -0,45 mm). Đối với những bệnh nhân bị gout cấp, etoricoxib 120 mg mỗi lần một ngày trong thời gian điều trị 8 ngày, làm giảm nhẹ các cơn đau khớp và viêm ở mức trung bình tới rất nặng, so với indomethacin 50 mg ba lần mỗi ngày. Giảm đau được thấy rõ chỉ sau 4 giờ sau khi bắt đầu điều trị. Đối với những bệnh nhân viêm cột sống dính khớp, etoricoxib 90 mg một lần mỗi ngày mang đến sự cải thiện đáng kể về đau nhức cột sống, viêm, cứng khớp và chức năng cột sống. Tác dụng trên lâm sàng của etoricoxib được quan sát thấy ngay từ ngày điều trị thứ hai sau khi bắt đầu điều trị và được duy trì trong suốt 52 tuần điều trị. Trong một nghiên cứu thứ hai với liều etoricoxib 60 mg so với liều etoricoxib 90mg, cả hai liều của etoricoxib đều có hiệu quả tương tự như naproxen 1000mg mỗi ngày Ở những bệnh nhân không đáp ứng tốt với liều etoricoxib trong vòng 6 tuần, tăng liều hàng ngày tới 90 mg đã cải thiện cường độ đau lưng (thực hiện bằng phương pháp thị giác với giác thang từ 0 đến 100 mm) với giá trị trung bình là -2,70 mm (95% Cl: -4,88 mm, 0,52 mm), so với điều trị tiếp theo với liều 60 mg. Trong một nghiên cứu lâm sàng đánh giá đau răng sau phẫu thuật, etoricoxib 90 mg được sử dụng một lần mỗi ngày trong ba ngày. Trong phân nhóm của bệnh nhân đau trung bình lúc bắt đầu nghiên cứu, etoricoxib 90 mg có tác dụng giảm đau tương tự ibuprofen 600 mg (16,11 so với 16,39; p=0,722), và cao hơn so với liều paracetamol/codeine 600 mg/60 mg (11,00; p<0,001) và giả dược (6,84; p<0,001) được đo bằng tổng mức độ giảm cơn đau trong 6 giờ đầu (TOPAR6). Tỉ lệ bệnh nhân báo cáo sử dụng thuốc cứu trợ trong 24 giờ đầu là 40,8% đối với etoricoxib 90 mg, 25,5% ibuprofen 600 mg mỗi 6 giờ, và 46,7% đối với paracetamol/codeine 600 mg/60 mg mỗi 6 giờ so với 76,2% giả dược. Trong nghiên cứu này, khởi phát tác dụng giảm đau trung bình của 90 mg etoricoxib là 28 phút sau khi dùng thuốc. An toàn Chương trình thử nghiệm dài hạn đa quốc gia về viêm khớp sử dụng etoricoxib và Diclofenac (MEDAL) Chương trình MEDAL là chương trình an toàn về tim mạch được thiết kế dựa trên dữ liệu thử nghiệm mù đôi, đối chứng ngẫu nhiên, nghiên cứu MEDAL, EDGE II và EDGE. Nghiên cứu MEDAL, là nghiên cứu định hướng kết quả tác động lên tim mạch ở 17.804 bệnh nhân viêm xương khớp và 5.700 bệnh nhân viêm khớp dạng thấp điều trị với etoricoxib 60 (viêm xương khớp) hoặc 90mg (viêm xương khớp và viêm khớp dạng thấp) hoặc diclofenac 150 mg mỗi ngày trong thời gian trung bình 20,3 tháng (tối đa 42,3 tháng, trung bình 21,3 tháng). Trong thử nghiệm này, chỉ những phản ứng có hại nghiêm trọng và các trường hợp phải ngừng dùng thuốc vì những tác dụng phụ nghiêm trọng được ghi lại. Những nghiên cứu EDGE và EDGE II so sánh khả năng dung nạp của etoricoxib với diclofenac. Nghiên cứu EDGE bao gồm 7.111 bệnh nhân được điều trị viêm xương khớp với liều etoricoxib 90 mg mỗi ngày (1,5 lần liều được khuyến cáo đối với viêm xương khớp hoặc diclofenac 150mg mỗi ngày, trung bình trong 9,1 tháng (lâu nhất 16,6 tháng, trung bình 11,4 tháng). Nghiên cứu EDGE II bao gồm 4.086 bệnh nhân viêm khớp dạng thấp được điều trị với etoricoxib 90 mg mỗi ngày hoặc diclofenac 150 mg mỗi ngày, trung binh 19,2 tháng (lâu nhất 33,1 tháng, trung bình 24 tháng). Trong chương trình MEDAL kết hợp, 34.701 bệnh nhân viêm xương khớp và viêm khớp dạng thấp được điều trị với thời gian trung bình là 17,9 tháng (lâu nhất là 42,3 tháng, trung bình 16,3 tháng) với xấp xỉ 12.800 bệnh nhân được điều trị trong thời gian hơn 24 tháng. Những bệnh nhân đăng kí trong chương trình có nhiều yếu tố nguy cơ về tim mạch và tiêu hóa tại thời điểm bắt đầu. Những bệnh nhân với tiền sử nhồi máu cơ tim gần thời điểm đó, phẫu thuật bắc cầu mạch vành hoặc can thiệp mạch vành qua da trong vòng 6 tháng trước khi bắt đầu đã được loại trừ. Sử dụng các chất chống dịch tiết dạ dày và aspirin liều thấp đã được cho phép trong các nghiên cứu. An toàn chung: Không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa etoricoxib và diclofenac trong tỉ lệ của các hiện tượng huyết khối. Những tác dụng phụ tim thận được thấy thường xuyên hơn khi điều trị với etoricoxib so với diclofenac, và tác dụng phụ này phụ thuộc vào liều dùng (xem kết quả cụ thể dưới đây). Những tác dụng phụ ở tiêu hóa, dạ dày và gan được quan sát thấy xảy ra thường xuyên hơn với diclofenac hơn là với etoricoxib. Tỉ lệ những tác dụng phụ ở EDGE và EDGE II và các biến cố phản ứng có hại đã xảy ra được coi là nghiêm trọng hoặc dẫn đến việc ngừng tham gia trong nghiên cứu MEDAL thì cao hơn với etoricoxib so với diclofenac. Những kết quả an toàn trên tim mạch: Tỉ lệ những tác dụng phụ nghiêm trọng về huyết khối (bao gồm những tác dụng xảy ra trên tim mạch, mạch máu và mạch máu ngoại vi) có thể được so sánh giữa etoricoxib và diclofenac, và dữ liệu được tổng hợp ở bảng bên dưới. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỉ lệ xảy ra huyết khối giữa etoricoxib và diclofenac trên tất cả các phân nhóm bệnh nhân được phân tích bao gồm những bệnh nhân có các nguy cơ tim mạch lúc tham gia chương trình. Khi xem xét một cách riêng rẽ, nguy cơ tương đối của những tác dụng phụ huyết khối tim mạch do etoricoxib 60 mg hoặc 90 mg gây ra so với diclofenac 150 mg là tương tự. Etoricoxib (N=16819) 25836 bệnh nhân-năm Diclofenac (N=16483) 24766 bệnh nhân-năm So sánh điều trị Tỉ lệ↑ (95% Cl) Tỉ lệ↑ (95% Cl) Nguy cơ tương đối (95% Cl) Những biến cố tác dụng phụ nghiêm trọng về huyết khối tim mạch được xác nhận Phân tích theo quy trình 1,24 (1,11; 1,38) 1,30 (1,17:1,45) 0,95 (0,81; 1,11) Phân tích theo chủ ý 1,25 (1,14:1,36) 1,19 (1,08:1,30) 1,05 (093; 1,19) Những biến cố trên tim được xác nhận Phân tích theo quy trình 0,71 (0,61:0,82) 0,78 (0,68; 0,90) 0,90 (0,74; 1,10) Phân tích theo chủ ý 0,69 (061; 0 78) 0,70 (0,62; 0,79) 0,99 (0,84; 1,17) Những biến cố trên mạch máu não được xác nhận Phân tích theo quy trình 0,34 (0,28; 0,42) 0,32 (0,25; 0,40) 1,08 (0,80:1,46) Phân tích theo chủ ý 0,33 (0,28; 0,39) 0,29 (0,24; 0,35) 1,12 (0,87:1,44) Những biến cố trên mạch máu ngoại vi được xác nhận Phân tích theo quy trình 0,20 (0,15:0,27) 0,22 (0,17; 0,29) 0,92 (0,63:1,35) Phân tích theo chủ ý 0,24 (0,20; 0,30) 0,23 (0,18; 0,28) 1,08 (0,81; 1,44) ↑những biến cố trên 100 bệnh nhân-năm; Cl= khoảng tin cậy. N= tổng bệnh nhân trong phân tích theo quy trình. Phân tích theo quy trình: Tất cả các biến cố trên liệu pháp nghiên cứu hoặc trọng vòng 14 ngày kể từ ngày ngưng thuốc (không bao gồm: Những bệnh nhân sử dụng < 75% thuốc nghiên cứu hoặc đã uống NSAIDs không nằm trong chương trình nghiên cứu >10% thời gian). Phân tích theo chủ ý: Tất cả các biến cố được xác nhận cho đến khi kết thúc thử nghiệm (bao gồm những bệnh nhân có thể tiếp xúc với các can thiệp không nằm trong nghiên cứu sau khi ngưng dùng thuốc nghiên cứu). Tổng số bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên, n = 17412 đối với etoricoxib và 17289 đối với diclofenac. Tỉ lệ tử vong do tim mạch, cũng như tử vong chung là tương tự giữa những nhóm điều trị etoricoxib và diclofenac. Những biến cố thận - tim mạch: Khoảng 50% bệnh nhân tham gia nghiên cứu MEDAL có tiền sử cao huyết áp ở thời điểm bắt đầu. Trong nghiên cứu, tỉ lệ ngưng dùng thuốc do tác dụng phụ liên quan đến cao huyết áp có ý nghĩa thống kê cao hơn khi dùng etoricoxib so với diclofenac. Tỉ lệ xuất hiện các biến cố do suy tim sung huyết (ngưng dùng thuốc và các phản ứng nghiêm trọng) xảy ra ở mức tương đương giữa etoricoxib 60 mg so với diclofenac 150 mg nhưng tỷ lệ này lại cao hơn ở nhóm dùng etoricoxib 90mg so với diclofenac 150 mg (có ý nghĩa thống kê giữa etoricoxib 90 mg và diclofenac 150 mg ở thuần tập bệnh nhân viêm xương khớp trong MEDAL). Tỉ lệ các biến cố suy tim sung huyết đã được khẳng định (những phản ứng nghiêm trọng phải nhập viện hoặc phải thăm khám ở khoa cấp cứu) do etoricoxib không cao hơn đáng kể so với diclofenac 150 mg, và tác dụng phụ này phụ thuộc liều. Tỉ lệ ngưng thuốc do tác dụng phụ gây phù nề do etoricoxib cao hơn so với diclofenac 150 mg và tác dụng phụ này phụ thuộc vào liều dùng (có ý nghĩa thống kê đối với etoricoxib 90 mg, nhưng không có ý nghĩa với etoricoxib 60 mg). Những kết quả nghiên cứu liên quan tới tim - thận do EDGE và EDGE II công bố phù hợp với kết quả nghiên cứu của MEDAL. Trong các nghiên cứu riêng lẻ của chương trình MEDAL, đối với etoricoxib (60 mg hoặc 90 mg), tỉ lệ tuyệt đối ngưng dùng thuốc ở nhóm điều trị bất kì lên đến 2,6% đối với cao huyết áp, lên đến 1,9% đối với phù và lên đến 1,1% đối với suy tim sung huyết, tỉ lệ ngưng thuốc của etoricoxib 90mg cao hơn etoricoxib 60 mg. Những kết quả nghiên cứu về sự dung nạp dạ dày ruột chương trình MEDAL: Người ta quan sát thấy một tỉ lệ thấp hơn rõ rệt phải ngưng điều trị do những tác dụng phụ trên lâm sàng (ví dụ chứng khó tiêu, đau bụng, loét) khi điều trị bằng etoricoxib so với diclofenac trong từng nghiên cứu thuộc ba chương trình nghiên cứu trong chương trình MEDAL. Tỉ lệ ngưng thuốc do các tác dụng phụ trên đường tiêu hóa trên mỗi một trăm bệnh nhân - năm trong suốt thời gian nghiên cứu như sau: 3,23 đối với etoricoxib và 4,96 đối với diclofenac trong nghiên cứu MEDAL; 9,12 đối với etoricoxib và 12,28 đối với diclofenac trong nghiên cứu EDGE; và 3,71 đối với etoricoxib và 4,8 đối với diclofenac trong nghiên cứu EDGE II. Những kết quả an toàn dạ dày ruột chương trình MEDAL: Những tác dụng phụ lên đường tiêu hóa trên được định nghĩa là những lỗ thủng, vết loét và chảy máu. Tập hợp các tác dụng phụ ở đường tiêu hóa trên có biến chứng bao gồm thủng, tắc nghẽn và chảy máu phức tạp; Tập hợp các tác dụng phụ đường tiêu hóa trên không biến chứng bao gồm thủng, tắc nghẽn và chảy máu không phức tạp; tỉ lệ thấp hơn đáng kể của các tác dụng phụ lên đường tiêu hóa trên được quan sát thấy khi điều trị với etoricoxib so với diclofenac. Không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa etoricoxib và diclofenac về tỉ lệ biến chứng phức tạp. Đối với tác dụng phụ gây xuất huyết đường tiêu hóa trên (biến chứng và không biến chứng gộp lại), không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa etoricoxib và diclofenac. Lợi ích lâm sàng trên đường tiêu hóa trên đối với etoricoxib so với diclofenac không có ý nghĩa thống kê ở những bệnh nhân kết hợp uống liều thấp aspirin (xấp xỉ 33% bệnh nhân). Tỉ lệ tính trên một trăm bệnh nhân - năm của tác dụng phụ đường tiêu hóa trên có biến chứng và không có biến chứng được xác nhận (thủng, nghẽn và chảy máu (PUBs)) là 0,67 (95% CI 0,57; 0,77) đối với etoricoxib và 0,97 (95% Cl 0,85; 1,10) đối với diclofenac, nguy cơ tương đối là 0,69 (95% Cl 0,57; 0,83). Tỉ lệ tính trên một trăm bệnh nhân - năm về các tác dụng phụ trên đường tiêu hóa trên ở bệnh nhân cao tuổi đã được đánh giá và mức giảm lớn nhất được quan sát ở những bệnh nhân ≥ 75 tuổi là (1,35 [95% Cl 0,94; 1,87] đối với etoricoxib và 2,78 [95% Cl 2,14; 3,56] đối với diclofenac. Tỉ lệ những tác dụng phụ trên đường tiêu hóa dưới (lỗ thủng tiểu tràng hoặc đại tràng, tắc ruột hoặc xuất huyết (POBs)) có sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa etoricoxib và diclofenac. Kết quả an toàn về gan trong chương trình MEDAL: Tỉ lệ ngưng dùng thuốc do các tác dụng phụ ở gan khi dùng etoricoxib thấp hơn so với diclofenac. Trong chương trình MEDAL kết hợp, 0,3% bệnh nhân dùng etoricoxib và 2,7% bệnh nhân dùng diclofenac ngưng dùng thuốc do tác dụng phụ liên quan đến gan. Tỉ lệ tính theo trăm bệnh nhân - năm là 0,22 đối với etoricoxib và 1,84 đối với diclofenac (giá trị p < 0,001 của etoricoxib so với diclofenac). Tuy nhiên, hầu hết các tác dụng phụ ở gan trong chương trình MEDAL đều không nghiêm trọng. Dữ liệu bổ sung về an toàn huyết khối tim mạch Trong những nghiên cứu lâm sàng ngoại trừ chương trình nghiên cứu MEDAL, xấp xỉ 3100 bệnh nhân được điều trị với etoricoxib > 60 mg mỗi ngày khoảng 12 tuần hoặc dài hơn. Không có sự khác biệt về tỉ lệ huyết khối tim mạch nghiêm trọng giữa những bệnh nhân dùng etoricoxib > 60 mg, giả dược hoặc non - naproxen NSAIDs. Tuy nhiên, tỉ lệ những tác dụng phụ này cao hơn ở những bệnh nhân dùng etoricoxib so với những bệnh nhân dùng naproxen 500 mg hai lần mỗi ngày. Sự khác biệt trong hoạt động chống tập kết tiểu cầu giữa một số thuốc NSAIDs ức chế COX-1 và thuốc ức chế COX-2 chọn lọc có thể có ý nghĩa lâm sàng ở bệnh nhân có nguy cơ tắc mạch - huyết khối. Những thuốc ức chế COX-2 có chọn lọc làm giảm sự hình thành prostacyclin hệ thống (và do vậy cũng có thể là prostacyclin nội mạc) mà không ảnh hưởng đến thromboxane tiểu cầu. Sự liên quan lâm sàng của những quan sát này chưa được xác định. Dữ liệu bổ sung về an toàn đường tiêu hóa Trong hai nghiên cứu mù đôi 12 tuần về nội soi, tỉ lệ tích lũy loét dạ dày - tá tràng thấp hơn đáng kể ở những bệnh nhân được điều trị với etoricoxib 120 mg một lần mỗi ngày so với những bệnh nhân được điều trị với naproxen 500 mg hai lần mỗi ngày hoặc ibuprofen 800 mg ba lần mỗi ngày. Etoricoxib có tỉ lệ loét cao hơn so với giả dược. Nghiên cứu chức năng thận ở người già Một nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, nghiên cứu nhóm dùng giả dược và nhóm đối chứng đánh giá hiệu quả của 15 ngày điều trị với etoricoxib (90 mg), celecoxib (200 mg ngày, 2 lần/ngày), naproxen (500 mg, 2 lần/ngày) và giả dược về sự bài tiết natri niệu, huyết áp, và các thông số chức năng thận khác ở bệnh nhân từ 60 đến 85 tuổi ăn kiêng muối 200 mEg/ngày. Etoricoxib, celecoxib, và naproxen có tác dụng tương tự lên sự bài tiết natri trong hai tuần điều trị. Tất cả các thông số dùng để so sánh chỉ ra rằng có sự gia tăng huyết áp tâm thu so với giả dược; tuy nhiên, etoricoxib có liên quan đến sự gia tăng có ý nghĩa thống kê vào ngày 14 khi so sánh với celecoxib và naproxen (thay đổi trung bình so với lúc đầu trên huyết áp tâm thu là: Etoricoxib 7,7 mmHg, celecoxib 2,4 mmHg, naproxen 3,6 mmHg). Dược động học Hấp thu Etoricoxib hấp thu tốt qua đường uống. Sinh khả dụng tuyệt đối đường uống gần 100%. Sau khi dùng liều 120 mg ngày 1 lần cho đến khi đạt trạng thái bền vững, nồng độ đỉnh trong huyết tương (trung bình nhân C max = 3,6 mcg/mL) được ghi nhận đạt được gần 1 giờ (T max ) sau khi đối tượng người lớn uống thuốc lúc bụng đói. AUC 0-24 giờ là 37,8 mcg giờ/mL. Dược động học của etoricoxib tuyến tính với phạm vi liều dùng trên lâm sàng. Bữa ăn (nhiều chất béo) không có ảnh hưởng có ý nghĩa lâm sàng lên mức độ hấp thu 1 liều etoricoxib 120 mg. Tốc độ hấp thu bị ảnh hưởng, dẫn đến giảm 36% C max và tăng T max lên 2 giờ. Những dữ liệu này không được coi là có ý nghĩa lâm sàng. Trong những thử nghiệm lâm sàng, etoricoxib được sử dụng mà không cần quan tâm đến sự liên quan tới bữa ăn Phân bố Khoảng 92% liều etoricoxib gắn với protein trong huyết tương người trong phạm vi nồng độ 0,05 - 5 μg/ml. Thể tích phân bố ở trạng thái bền vững ((V dss ) xấp xỉ 120 L ở người). Etoricoxib qua nhau thai ở chuột và thỏ, và hàng rào máu - não ở chuột. Chuyển hóa Etoricoxib được chuyển hóa mạnh mẽ với <1% liều được tìm thấy trong nước tiểu ở dạng ban đầu. Con đường chuyển hóa chính để tạo dẫn xuất 6’-hydroxymethyl được thực hiện với sự xúc tác của các enzyme cytochrome P450 (CYP), CYP3A4 đóng góp vào quá trình chuyển hóa thuốc in vivo. Các nghiên cứu in vitro cho thấy CYP2D6, CYP2C9, CYP1A2 và CYP2C19 cũng xúc tác cho quá trình chuyển hóa chính, nhưng vai trò định lượng của chúng chưa được nghiên cứu in vivo. Đã có 5 chất chuyển hóa được nhận diện ở người. Chất chuyển hóa chính là dẫn chất 6’ acid carboxylic của etoricoxib được hình thành do sự oxy hóa dẫn xuất 6’-hydroxymethyl. Các chất chuyển hóa chính này không biểu hiện hoạt tính có thể đo lường được hoặc chỉ là các thuốc ức chế COX-2 có hoạt tính yếu. Các chất chuyển hóa này đều không ức chế COX-1. Thải trừ Sau khi tiêm tĩnh mạch 1 liều đơn 25 mg etoricoxib có gắn phóng xạ cho các đối tượng khỏe mạnh, 70% hoạt động phóng xạ được tìm thấy trong nước tiểu và 20% trong phân, chủ yếu ở dạng các chất chuyển hóa. Dưới 2% hoạt động phóng xạ được tìm thấy ở dạng thuốc không chuyển hóa. Phần lớn etoricoxib được thải trừ chủ yếu qua quá trình chuyển hóa, sau đó qua sự bài tiết ở thận. Nồng độ của etoricoxib ở trạng thái bền vững đạt được trong vòng 7 ngày điều trị khi dùng liều 120 mg ngày 1 lần, với tỷ số tích lũy gần bằng 2, tương ứng với thời gian bán thải khoảng 22 giờ. Theo ước tính, sự thanh thải thuốc tại huyết tương xấp xỉ 50 mL/phút sau khi tiêm tĩnh mạch 25 mg thuốc. Các nhóm bệnh nhân đặc biệt Bệnh nhân lớn tuổi : Dược động học ở người cao tuổi (từ 65 tuổi trở lên) tương tự như ở người trẻ tuổi. Giới tính : Dược động học của etoricoxib ở nam và nữ đều như nhau. Bệnh nhân suy gan : Ở bệnh nhân suy gan nhẹ (chỉ số Child-Pugh 5-6), etoricoxib liều 60 mg một lần mỗi ngày có AUC trung bình cao hơn khoảng 16% so với những bệnh nhân khỏe mạnh dùng cùng chế độ liều. Bệnh nhân suy gan trung bình (chỉ số Child-Pugh 7-9) dùng etoricoxib 60 mg hai ngày một lần đã có AUC trung bình tương tự như ở đối tượng khỏe mạnh dùng etoricoxib 60 mg ngày 1 lần; etoricoxib 30 mg một lần mỗi ngày chưa được nghiên cứu đối với nhóm bệnh nhân này. Không có tài liệu lâm sàng hoặc dược động học đối với bệnh nhân suy gan nặng (chỉ số Child-Pugh ≥10). Bệnh nhân suy thận : Dược động học của liều đơn etoricoxib 120 mg đối với những bệnh nhân suy thận trung bình đến nặng và bệnh nhân có bệnh thận giai đoạn cuối đang điều trị bằng thẩm phân máu thì không khác biệt đáng kể so với dược động học ở đối tượng khỏe mạnh. Thẩm phân máu không góp phần đáng kể vào việc thải trừ thuốc (sự thanh thải thuốc qua thẩm phân khoảng 50 mL/phút). Trẻ em : Dược động học của etoricoxib ở bệnh nhi (< 12 tuổi) chưa được nghiên cứu. Trong một nghiên cứu dược động học (N = 16) tiến hành ở thanh thiếu niên (từ 12 đến 17 tuổi), dược động học ở thanh thiếu niên nặng từ 40 đến 60 kg dùng etoricoxib 60 kg mỗi ngày một lần và thanh thiếu niên > 60 kg được chỉ định dùng etoricoxib 90 mg mỗi ngày một lần thì đều giống như dược động học ở người lớn dùng etoricoxib 90 mg ngày 1 lần. Vẫn chưa xác lập tính an toàn và hiệu quả của etoricoxib ở bệnh nhân trẻ em.
Thành phần
Etoricoxib 90mg
Cách dùng
Cách dùng Roticox được dùng đường uống và có thể dùng với thức ăn hoặc không. Hiệu quả của thuốc có thể nhanh hơn khi uống Roticox không có thức ăn. Điều này cần được xem xét khi cần điều trị triệu chứng nhanh chóng. Liều dùng Những nguy cơ tim mạch của etoricoxib có thể tăng lên cùng với liều dùng và thời gian sử dụng thuốc, do đó nên sử dụng thuốc trong thời gian ngắn nhất và liều dùng thấp nhất hàng ngày có hiệu quả. Nhu cầu điều trị triệu chứng và đáp ứng điều trị nên được đánh giá lại theo định kì, đặc biệt đối với những bệnh nhân viêm xương khớp. Viêm xương khớp : Liều khuyến cáo là 30 mg mỗi ngày một lần. Đối với một số bệnh nhân không thấy thuyên giảm triệu chứng, tăng lên 60 mg mỗi ngày một lần có thể nâng cao hiệu quả. Nếu không thấy tăng lợi ích điều trị thì nên cân nhắc liệu pháp điều trị khác. Viêm khớp dạng thấp : Liều khuyến cáo là 60 mg mỗi ngày một lần. Đối với một số bệnh nhân không giảm triệu chứng, nâng lên 90 mg mỗi ngày một lần có thể tăng hiệu quả. Một khi bệnh nhân đã ổn định về mặt lâm sàng, giảm liều xuống còn 60 mg mỗi ngày một lần. Nếu không thấy tăng lợi ích điều trị, việc lựa chọn liệu pháp điều trị khác nên được cân nhắc. Viêm cột sống dính khớp: Liều khuyến cáo là 60 mg mỗi ngày một lần. Đối với một số bệnh nhân không giảm triệu chứng, tăng lên 90 mg mỗi ngày một lần có thể tăng hiệu quả. Một khi bệnh nhân ổn định lâm sàng, giảm liều xuống còn 60 mg mỗi ngày một lần. Nếu không thấy tăng lợi ích điều trị, nên cân nhắc lựa chọn liệu pháp điều trị khác. Điều trị cơn đau cấp tính : Đối với điều trị cơn đau cấp tính, etoricoxib chỉ nên dùng trong giai đoạn có triệu chứng của cơn đau cấp tính. Viêm khớp gout cấp tính : Liều khuyến cáo là 120 mg mỗi ngày một lần. Trong những thử nghiệm lâm sàng đối với cơn gút cấp, etoricoxib được chỉ định sử dụng trong 8 ngày. Đau sau khi phẫu thuật nha khoa: Liều khuyến cáo là 90 mg mỗi ngày một lần, tối đa 3 ngày. Một vài bệnh nhân yêu cầu dùng thêm thuốc giảm đau khác trong thời gian điều trị 3 ngày này. Liều lớn hơn liều được khuyến cáo đối với các chỉ định trên không thấy tăng thêm hiệu quả hoặc chưa được nghiên cứu. Do đó: Liều điều trị viêm xương khớp không quá 60mg mỗi ngày. Liều viêm khớp dạng thấp và viêm cột sống dính khớp không quá 90mg mỗi ngày. Liều cho cơn gút cấp không quá 120mg mỗi ngày, tối đa 8 ngày. Liều cho đau cấp sau phẫu thuật nha khoa không quá 90mg mỗi ngày, tối đa 3 ngày. Những bệnh nhân đặc biệt Bệnh nhân lớn tuổi : Không cần điều chỉnh liều với bệnh nhân lớn tuổi; Cũng như những thuốc khác, nên thận trọng đối với những bệnh nhân này. Bệnh nhân suy gan: Liều dùng tối đa cho các bệnh nhân rối loạn chức năng gan nhẹ đối với tất cả các chỉ định là 60mg mỗi ngày một lần (chỉ số Child-Pugh 5-6). Các bệnh nhân rối loạn chức năng gan trung bình (chỉ số Child-Pugh 7-9) không quá 30mg mỗi ngày một lần. Chưa có nhiều kinh nghiệm lâm sàng ở những bệnh nhân rối loạn chức năng gan trung bình và khuyến cáo cần thận trọng. Chưa có kinh nghiệm lâm sàng đối với rối loạn chức năng gan nặng (chỉ số Child-Pugh > 10); vì thế chống chỉ định đối với những bệnh nhân này. Bệnh nhân suy thận : Không cần điều chỉnh liều đối với bệnh nhân có độ thanh thải creatinine ≥ 30 ml/phút. Chống chỉ định đối với những bệnh nhân có độ thanh thải creatinine < 30ml/phút. Trẻ em : Chống chỉ định đối với trẻ em và thanh thiếu niên dưới 16 tuổi. Làm gì khi dùng quá liều? Triệu chứng Trong những nghiên cứu lâm sàng, dùng đơn liều etoricoxib lên đến 500 mg và đa liều lên đến 150mg/ngày trong 21 ngày không gây độc hại đáng kể. Đã có những báo cáo về tình trạng quá liều với etoricoxib, mặc dù các phản ứng có hại không được báo cáo trong phần lớn các trường hợp. Những phản ứng bất lợi thấy thường xuyên nhất đều phù hợp với thông tin về độ an toàn của etoricoxib (ví dụ như các biến chứng tiêu hóa, các sự cố về tim, thận). Xử trí Trong trường hợp quá liều, nên sử dụng các biện pháp hỗ trợ thông thường, ví dụ như loại bỏ các chất không hấp thu khỏi đường tiêu hóa, tiến hành giám sát lâm sàng và điều trị hỗ trợ khi cần thiết. Etoricoxib không thể phân tách bằng thẩm tách máu; không biết liệu etoricoxib có thể thẩm tách bằng thẩm phân phúc mạc hay không. Làm gì khi quên 1 liều? Nếu quên một liều thuốc, cần dùng thuốc càng sớm càng tốt, nhưng hãy bỏ qua liều đã quên nếu gần đến giờ dùng liều tiếp theo, không dùng hai liều cùng một lúc.
Lưu ý và cảnh báo
Những điều cần lưu ý khi sử dụng Người dùng cần đọc kỹ hướng dẫn và tìm hiểu các thông tin chi tiết dưới đây trước khi bắt đầu điều trị bằng thuốc. Trường hợp không nên sử dụng Cơ thể dị ứng hoặc mẫn cảm với bất kỳ hoạt chất hay tá dược nào có trong công thức thuốc. Đang bị xuất huyết tiêu hóa hoặc có ổ loét dạ dày - tá tràng tiến triển. Người bệnh có tiền sử bị co thắt phế quản, viêm mũi cấp tính, nổi polyp mũi, phù mạch thần kinh, nổi mày đay hoặc gặp các phản ứng dị ứng tương tự sau khi dùng acid acetylsalicylic hoặc các thuốc NSAIDs (gồm cả chất ức chế COX-2). Phụ nữ đang trong thai kỳ hoặc người đang nuôi con bằng sữa mẹ. Suy giảm chức năng gan mức độ nặng (được xác định khi chỉ số Child-Pugh > 10 hoặc nồng độ albumin huyết thanh dưới 25 g/l). Đối tượng chưa đủ 16 tuổi (trẻ em và trẻ vị thành niên). Bệnh nhân mắc viêm ruột (IBD). Người bị suy tim sung huyết phân độ NYHA II-IV. Người có bệnh lý cao huyết áp với chỉ số huyết áp liên tục vượt quá ngưỡng 140/90 mmHg và chưa được kiểm soát ổn định. Bệnh nhân đã được chẩn đoán mắc bệnh tim thiếu máu cục bộ, bệnh mạch máu não hoặc bệnh động mạch ngoại biên. Cảnh báo và thận trọng Ảnh hưởng đến tiêu hóa Quá trình điều trị bằng Etoricoxib có thể dẫn đến các biến chứng nguy hiểm ở đường tiêu hóa trên như thủng dạ dày, loét hoặc xuất huyết, một số trường hợp đã ghi nhận tử vong. Cần đặc biệt thận trọng khi kê đơn cho nhóm đối tượng dễ gặp biến chứng tiêu hóa do NSAIDs, bao gồm: người cao tuổi, người có tiền sử loét hoặc xuất huyết dạ dày, người đang phối hợp đồng thời với các NSAIDs khác hoặc acid acetylsalicylic. Việc kết hợp Etoricoxib cùng acid acetylsalicylic (ngay cả ở liều thấp) sẽ làm gia tăng nguy cơ xuất hiện các tác dụng phụ ở dạ dày - ruột (như loét hoặc biến chứng khác). Các nghiên cứu lâm sàng dài hạn cho thấy, phác đồ phối hợp chất ức chế chọn lọc COX-2 với acid acetylsalicylic không mang lại sự an toàn vượt trội cho hệ tiêu hóa so với phác đồ phối hợp NSAIDs thông thường với acid acetylsalicylic. Ảnh hưởng tim mạch Nguy cơ huyết khối: Các dữ liệu lâm sàng chỉ ra rằng nhóm ức chế chọn lọc COX-2 có liên quan đến việc gia tăng nguy cơ gặp biến cố huyết khối tắc mạch (đặc biệt là đột quỵ và nhồi máu cơ tim) so với giả dược hoặc một số NSAIDs khác. Nguy cơ tim mạch do Etoricoxib gây ra tỷ lệ thuận với liều lượng và thời gian điều trị, có thể xuất hiện ngay trong những tuần đầu dùng thuốc và tăng dần theo thời gian. Nguy cơ huyết khối này được ghi nhận rõ rệt nhất ở các mức liều cao. Do đó, bác sĩ cần theo dõi và đánh giá định kỳ các biến cố tim mạch của người bệnh, kể cả khi họ chưa từng có triệu chứng trước đó. Bệnh nhân cần được hướng dẫn nhận biết các dấu hiệu tim mạch nghiêm trọng để đi khám ngay lập tức. Để hạn chế tối đa các phản ứng bất lợi, chỉ nên dùng Roticox với liều lượng hàng ngày thấp nhất mang lại hiệu quả và trong thời gian ngắn nhất có thể. Chỉ chỉ định Etoricoxib cho những bệnh nhân có yếu tố nguy cơ tim mạch rõ ràng (như đái tháo đường, tăng huyết áp, hút thuốc, tăng lipid máu) sau khi đã cân nhắc kỹ lưỡng. Do không có hoạt tính ức chế tiểu cầu, các chất ức chế chọn lọc COX-2 không thể dùng thay thế aspirin trong việc phòng ngừa bệnh lý tim mạch. Vì Etoricoxib thuộc nhóm này và không làm giảm kết tập tiểu cầu, người bệnh tuyệt đối không tự ý ngưng các thuốc kháng tiểu cầu đang sử dụng khi dùng kèm Etoricoxib . Ảnh hưởng lên thận Prostaglandin thận đóng vai trò duy trì dòng máu tưới thận bù trừ. Vì vậy, ở những người bị giảm tưới máu thận, việc dùng Roticox có thể cản trở quá trình tổng hợp prostaglandin, làm giảm lưu lượng máu đến thận và dẫn đến suy giảm chức năng thận. Nhóm đối tượng có nguy cơ cao nhất gồm người đã bị suy giảm chức năng thận từ trước, người xơ gan hoặc suy tim mất bù. Việc theo dõi sát sao chức năng thận ở các bệnh nhân này là rất cần thiết. Giữ nước, phù và tăng huyết áp Hiện tượng giữ nước, phù và tăng huyết áp đã được ghi nhận ở những người điều trị bằng Etoricoxib do tác động ức chế tổng hợp prostaglandin. Tất cả các thuốc NSAIDs (bao gồm cả Etoricoxib ) đều có khả năng làm khởi phát mới hoặc khiến tình trạng suy tim sung huyết trở nên trầm trọng hơn. Cần thận trọng khi dùng thuốc cho người có tiền sử suy tim, cao huyết áp, rối loạn chức năng thất trái hoặc đã bị phù trước đó. Nếu phát hiện các dấu hiệu lâm sàng cho thấy bệnh tiến triển xấu đi, phải ngừng dùng Etoricoxib và áp dụng biện pháp xử lý phù hợp. So với một số NSAIDs khác và các chất ức chế chọn lọc COX-2, Etoricoxib có thể gây tăng huyết áp với tần suất thường xuyên và mức độ nghiêm trọng hơn, đặc biệt khi dùng liều cao. Do đó, cần kiểm soát tốt huyết áp trước khi bắt đầu và theo dõi chặt chẽ chỉ số này trong suốt quá trình điều trị. Huyết áp cần được kiểm tra trong vòng 2 tuần đầu sau khi dùng thuốc và đánh giá định kỳ sau đó. Nếu huyết áp tăng cao đáng kể, nên chuyển sang liệu pháp điều trị khác. Ảnh hưởng lên gan Khoảng 1% bệnh nhân tham gia các thử nghiệm lâm sàng kéo dài đến 1 năm với liều Etoricoxib 30 mg, 60 mg và 90 mg mỗi ngày ghi nhận sự gia tăng nồng độ alanine aminotransferase (ALT) và/hoặc aspartate aminotransferase (AST) lên gấp 3 lần hoặc nhiều hơn giới hạn trên bình thường. Cần giám sát chặt chẽ những người có biểu hiện rối loạn chức năng gan hoặc có kết quả xét nghiệm gan bất thường. Phải dừng thuốc ngay nếu xuất hiện các dấu hiệu suy gan hoặc khi men gan tăng vượt quá 3 lần giới hạn trên bình thường. Ảnh hưởng chung Trong quá trình điều trị, nếu phát hiện bất kỳ sự suy giảm chức năng nào của các cơ quan nêu trên, cần ngừng dùng Etoricoxib và xử lý kịp thời. Cần đặc biệt lưu ý và giám sát khi dùng thuốc cho người cao tuổi, người bị suy giảm chức năng gan, thận hoặc tim. Cần bù đủ nước cho những bệnh nhân đang bị mất nước trước khi bắt đầu liệu pháp Etoricoxib . Các báo cáo sau khi thuốc lưu hành trên thị trường ghi nhận một số phản ứng da nghiêm trọng, thậm chí tử vong, liên quan đến việc dùng NSAIDs và chất ức chế chọn lọc COX-2 như hội chứng Stevens-Johnson, hoại tử thượng bì nhiễm độc và viêm da tróc vảy, tuy nhiên tỷ lệ xảy ra là rất hiếm. Bệnh nhân dễ gặp các phản ứng trên da này nhất trong tháng đầu tiên của đợt điều trị. Đã có báo cáo về các phản ứng quá mẫn nặng như phù mạch và phản vệ ở người dùng Etoricoxib . Một số chất ức chế chọn lọc COX-2 có thể làm tăng nguy cơ dị ứng da ở những người có tiền sử dị ứng thuốc trước đó. Phải ngừng Etoricoxib ngay khi phát hiện nốt phát ban đầu tiên trên da, tổn thương niêm mạc hoặc bất kỳ biểu hiện quá mẫn nào khác. Thuốc có thể làm lu mờ các triệu chứng của tình trạng viêm nhiễm và sốt. Cần thận trọng tối đa khi phối hợp Etoricoxib với warfarin hoặc các thuốc chống đông máu đường uống khác. Không khuyến cáo sử dụng Etoricoxib cũng như các chất ức chế tổng hợp cyclooxygenase/prostaglandin cho phụ nữ đang có kế hoạch mang thai. Ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc Những người gặp phải triệu chứng hoa mắt, buồn ngủ hoặc chóng mặt trong thời gian dùng Etoricoxib tuyệt đối không được vận hành máy móc hoặc điều khiển phương tiện giao thông. Sử dụng thuốc cho phụ nữ trong thời kỳ mang thai và cho con bú Thời kỳ mang thai: Chưa có đầy đủ dữ liệu lâm sàng về việc sử dụng Etoricoxib ở phụ nữ mang thai. Các thử nghiệm trên động vật cho thấy thuốc có độc tính đối với quá trình sinh sản. Chưa xác định được mức độ nguy hại đối với thai phụ. Tương tự các chất ức chế tổng hợp prostaglandin khác, thuốc có thể gây đờ tử cung và làm đóng ống động mạch sớm ở thai nhi trong 3 tháng cuối thai kỳ. Do đó, chống chỉ định dùng Etoricoxib cho phụ nữ mang thai. Nếu phát hiện mang thai khi đang điều trị, người bệnh phải dừng thuốc ngay lập tức. Thời kỳ cho con bú: Chưa rõ liệu hoạt chất có bài tiết vào sữa mẹ hay không, tuy nhiên nghiên cứu trên chuột cống cho thấy thuốc có bài tiết qua sữa. Vì vậy, người đang cho con bú không được phép sử dụng Etoricoxib . Khả năng sinh sản: Phụ nữ đang cố gắng thụ thai được khuyến cáo không nên dùng Etoricoxib hay các thuốc ức chế COX-2 khác. Tương tác với thuốc khác Tương tác dược lực học Thuốc chống đông máu dùng đường uống: Ở những người bệnh đang điều trị ổn định bằng warfarin dài hạn, việc dùng thêm Etoricoxib với liều 120 mg mỗi ngày có thể làm tăng chỉ số INR (tỉ số chuẩn hóa quốc tế về thời gian prothrombin) thêm khoảng 13% . Do đó, cần kiểm tra thường xuyên chỉ số INR khi bắt đầu dùng hoặc khi thay đổi liều Etoricoxib , đặc biệt là trong vài ngày đầu tiên. Thuốc lợi tiểu, thuốc ức chế men chuyển (ACE) và thuốc đối kháng Angiotensin II: Nhóm NSAIDs có thể làm giảm tác dụng hạ huyết áp của các thuốc này. Ở những bệnh nhân có chức năng thận suy giảm (như người già hoặc người bị mất nước do dùng thuốc lợi tiểu), việc phối hợp đồng thời Etoricoxib với thuốc ức chế ACE hoặc đối kháng angiotensin II có thể khiến chức năng thận suy giảm nặng hơn, thậm chí dẫn đến suy thận cấp không thể phục hồi. Cần hết sức lưu ý tương tác này khi phối hợp thuốc, đặc biệt ở người cao tuổi. Bệnh nhân cần được bù nước đầy đủ và theo dõi chức năng thận khi bắt đầu cũng như định kỳ trong suốt quá trình phối hợp. Acetylsalicylic Acid: Nghiên cứu trên người khỏe mạnh ở trạng thái ổn định cho thấy dùng Etoricoxib 120 mg 1 lần mỗi ngày không gây ảnh hưởng đến tác dụng kháng kết tập tiểu cầu của acid acetylsalicylic (liều 81 mg 1 lần mỗi ngày). Có thể dùng chung Etoricoxib với acid acetylsalicylic liều thấp để dự phòng tim mạch, tuy nhiên sự kết hợp này làm tăng tỷ lệ loét tiêu hóa và các biến chứng khác so với việc chỉ dùng đơn độc Etoricoxib . Tránh phối hợp Etoricoxib với các NSAIDs khác hoặc với acid acetylsalicylic ở liều cao hơn liều dự phòng tim mạch. Ciclosporin và tacrolimus: Dù chưa có nghiên cứu cụ thể với Etoricoxib , việc dùng chung ciclosporin hoặc tacrolimus với bất kỳ thuốc NSAID nào cũng có thể làm tăng độc tính trên thận của hai hoạt chất này. Cần giám sát chặt chẽ chức năng thận nếu phối hợp chung. Tương tác dược động học Tác dụng của etoricoxib lên dược động học của những thuốc khác: Lithium: Các thuốc NSAIDs làm giảm khả năng đào thải lithium qua thận, dẫn đến tăng nồng độ chất này trong máu. Cần theo dõi sát sao nồng độ lithium huyết tương và điều chỉnh liều dùng phù hợp khi phối hợp hoặc khi ngừng dùng NSAID. Methotrexate: Các nghiên cứu đánh giá việc dùng Etoricoxib liều 60 mg , 90 mg hoặc 120 mg 1 lần mỗi ngày trong 7 ngày cho bệnh nhân viêm khớp dạng thấp đang dùng methotrexate hàng tuần (liều từ 7,5 đến 20 mg ) cho thấy: liều 60 mg và 90 mg không ảnh hưởng đến nồng độ hay độ thanh thải thận của methotrexate. Tuy nhiên, liều 120 mg làm tăng nồng độ methotrexate trong huyết tương thêm 28% và giảm độ thanh thải thận của thuốc này đi 13% . Cần theo dõi kỹ các độc tính của methotrexate khi dùng chung. Thuốc ngừa thai dùng đường uống: Dùng đồng thời Etoricoxib 60 mg với thuốc tránh thai chứa 35 microgram ethinyl estradiol (EE) và 0,5 - 1 mg norethindrone trong 21 ngày làm tăng AUC 0-24h ở trạng thái ổn định của EE lên 37% . Khi dùng Etoricoxib 120 mg cùng lúc hoặc cách 12 giờ với thuốc tránh thai đường uống, AUC 0-24h ở trạng thái ổn định của EE tăng từ 50% đến 60% . Sự gia tăng nồng độ EE này cần được lưu ý khi lựa chọn thuốc tránh thai phù hợp, vì tăng tiếp xúc với EE có thể làm tăng nguy cơ gặp tác dụng phụ (như huyết khối tắc tĩnh mạch ở nhóm phụ nữ có nguy cơ). Liệu pháp thay thế hormone (HRT): Phối hợp Etoricoxib 120 mg với liệu pháp estrogen liên hợp ( 0,625 mg PREMARIN™) trong 28 ngày làm tăng AUC 0-24h ở trạng thái ổn định của estrone không liên hợp lên 41% , equilin lên 76% và 17-β-estradiol lên 22% . Tác động khi dùng kéo dài các liều khuyến cáo của Etoricoxib (30, 60 mg và 90 mg ) chưa được nghiên cứu. Việc tăng liều PREMARIN từ 0,625 mg lên 1,25 mg cho thấy AUC 0-24h của các thành phần estrogen thấp hơn một nửa so với khi dùng PREMARIN đơn độc. Ý nghĩa lâm sàng của sự gia tăng này chưa được làm rõ. Cần cân nhắc việc tăng nồng độ estrogen khi lựa chọn liệu pháp hormone cho phụ nữ sau mãn kinh dùng kèm Etoricoxib , vì tăng AUC của estrogen sẽ làm tăng nguy cơ xảy ra các biến cố bất lợi liên quan đến liệu pháp này. Prednisone/prednisolone: Roticox không gây ra các ảnh hưởng lâm sàng đáng kể đối với dược động học của prednisone/prednisolone. Digoxin: Sử dụng Etoricoxib 120 mg 1 lần mỗi ngày trong 10 ngày ở người khỏe mạnh không làm thay đổi AUC 0-24h hoặc sự đào thải qua thận của digoxin ở trạng thái ổn định, nhưng làm tăng Cmax của digoxin khoảng 33% . Sự gia tăng này thường không gây ảnh hưởng lớn với đa số bệnh nhân, tuy nhiên những người có nguy cơ cao bị ngộ độc digoxin cần được theo dõi kỹ khi phối hợp thuốc. Ảnh hưởng của etoricoxib lên các thuốc chuyển hóa bởi sulfotransferase: Etoricoxib ức chế hoạt tính của sulfotransferase (đặc biệt là SULT1E1), làm tăng nồng độ ethinyl estradiol. Cần thận trọng khi dùng chung Etoricoxib với các thuốc chuyển hóa chủ yếu qua con đường này (như salbutamol uống và minoxidil). Ảnh hưởng của etoricoxib lên các thuốc chuyển hóa bởi CYP isoenzymes: Các nghiên cứu in vitro cho thấy Etoricoxib không ức chế các cytochrome P450 (CYP) gồm 1A2, 2C9, 2C19, 2D6, 2E1 hoặc 3A4. Thử nghiệm trên người khỏe mạnh dùng liều Etoricoxib 120 mg mỗi ngày cũng cho thấy hoạt tính của CYP3A4 ở gan không bị biến đổi (đánh giá qua test hơi thở erythromycin). Ảnh hưởng của các thuốc khác lên dược động học của etoricoxib: Con đường chuyển hóa chính của Etoricoxib trong cơ thể phụ thuộc vào các enzyme CYP, trong đó CYP3A4 đóng vai trò chủ đạo. Các nghiên cứu in vitro cho thấy các enzyme CYP2D6, CYP2C9, CYP1A2 và CYP2C19 cũng tham gia xúc tác nhưng vai trò định lượng cụ thể trên cơ thể người chưa được xác định rõ. Ketoconazole: Việc dùng ketoconazole (chất ức chế mạnh CYP3A4) với liều 400 mg 1 lần mỗi ngày trong 11 ngày cho người khỏe mạnh không gây ra thay đổi có ý nghĩa lâm sàng đối với dược động học của một liều đơn Etoricoxib 60 mg (AUC chỉ tăng 43% ). Voriconazole và Miconazole: Dùng chung Etoricoxib với voriconazole đường uống hoặc gel miconazole bôi miệng (các chất ức chế mạnh CYP3A4) có thể làm tăng nhẹ AUC của Etoricoxib , nhưng mức tăng này không có ý nghĩa lâm sàng. Rifampicin: Phối hợp đồng thời với rifampicin (chất cảm ứng mạnh enzyme CYP) làm giảm nồng độ Etoricoxib trong huyết tương đi 65% . Sự sụt giảm này có thể khiến các triệu chứng bệnh tái phát. Mặc dù điều này gợi ý đến việc tăng liều Etoricoxib , nhưng việc dùng liều cao hơn liều khuyến cáo cho từng chỉ định khi phối hợp với rifampicin vẫn chưa được nghiên cứu lâm sàng. Antacids: Các thuốc kháng acid dạ dày không gây ảnh hưởng có ý nghĩa lâm sàng đối với dược động học của Etoricoxib .
Mô tả chi tiết
Thuốc Roticox 90mg Krka là gì? Được sản xuất bởi hãng dược phẩm KRKA, D.D., Novo Mesto, thuốc Roticox 90mg chứa hoạt chất chính là Etoricoxib với hàm lượng 90 mg . Công dụng và chỉ định điều trị Sản phẩm này được chỉ định nhằm đẩy lùi các biểu hiện lâm sàng của những bệnh lý sau: Làm giảm các triệu chứng do bệnh viêm xương khớp (OA) và viêm khớp dạng thấp (RA) gây ra. Hỗ trợ cải thiện tình trạng viêm cột sống dính khớp. Kiểm soát và xoa dịu các cơn đau kèm theo những dấu hiệu viêm nhiễm xuất hiện trong các đợt gout cấp tính.
Dữ liệu được ghi nhận vào 2026-08-28T04:04:51.422Z. Dược Hub cung cấp thông tin tham khảo, không bán thuốc trực tuyến và không thay thế tư vấn của bác sĩ hoặc dược sĩ. Giá thuốc và tồn kho không được công bố tại URL này.