← Danh mục thuốc

Thông tin sản phẩm tham khảo

Thuốc Tagrisso 80mg AstraZeneca điều trị ung thư phổi (3 vỉ x 10 viên)

Thuốc Tagrisso 80mg AstraZeneca là gì? Đối với bệnh nhân trưởng thành đang đối mặt với ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) ở giai đoạn di căn hoặc tiến triển tại chỗ, dòng sản phẩm Tagrisso do tập đoàn AstraZeneca AB sản xuất là một liệu pháp điều trị chuyên biệt. Vai trò của thuốc được chỉ định cụ thể cho những trường hợp ghi nhận kết quả dương tính với đột biến EGFR T790M. Hiệu quả điều trị này được mang lại nhờ hoạt chất chính cấu thành nên sản phẩm là Osimertinib (tồn tại dưới dạng Osimertinib mesylat).

Thương hiệu
AstraZeneca
Phân loại
Thuốc kê đơn
Quy cách/đơn vị
Hộp
Nhà sản xuất
AstraZeneca

Công dụng / chỉ định

Công dụng của Tagrisso 80mg AstraZeneca Chỉ định sử dụng Tagrisso được dùng để điều trị cho người trưởng thành mắc ung thư phổi loại không tế bào nhỏ (NSCLC) ở giai đoạn tiến triển tại chỗ hoặc đã di căn, có xét nghiệm đột biến (EGFR) T790M dương tính. Cơ chế tác dụng (Dược lực học) Cơ chế tác động Hoạt chất Osimertinib đóng vai trò là chất ức chế Tyrosine Kinase (TKI) không thuận nghịch. Chất này tác động lên các thụ thể yếu tố phát triển biểu bì (EGFRs) mang đột biến nhạy cảm (EGFRm) và đột biến kháng TKI T790M. Tác động về dược lực Thử nghiệm in vitro chứng minh Osimertinib có khả năng ức chế mạnh mẽ thụ thể EGFR trên các dòng tế bào ung thư phổi không tế bào nhỏ mang đột biến EGFRm nhạy cảm lâm sàng và đột biến T790M (giá trị IC50s đo được qua xét nghiệm phospho-EGFR dao động từ 6nM đến 54nM). Sự phát triển của tế bào ác tính bị kìm hãm hiệu quả, trong khi tác động lên EGFR của các tế bào không đột biến (wild-type) ở mức rất thấp (giá trị IC50s từ 480nM đến 1,8μM trong xét nghiệm phospho-EGFR). Trên mô hình in vivo đường uống, Osimertinib giúp thu nhỏ kích thước khối u ở cả mẫu ghép ngoại lai và mẫu biến đổi gen trên phổi chuột bị NSCLC mang đột biến EGFRm và T790M. Điện sinh lý học trên tim Nghiên cứu AURA2 thực hiện trên 210 người bệnh sử dụng Osimertinib liều 80 mg /ngày để đánh giá nguy cơ kéo dài khoảng QTc. Các chỉ số ECG được ghi nhận sau liều đầu tiên và khi nồng độ thuốc đạt trạng thái ổn định. Phân tích dược động học ước tính khoảng QTc kéo dài liên quan đến thuốc là 14 mili giây ở liều 80 mg , với giới hạn trên là 16 mili giây (khoảng tin cậy 90% CI). Hiệu quả và an toàn trên lâm sàng Bệnh nhân NSCLC có đột biến T790M trước khi điều trị – nghiên cứu AURA3 Nghiên cứu pha 3 ngẫu nhiên, nhãn mở, có đối chứng (AURA3) đã chứng minh hiệu quả và độ an toàn của Tagrisso ở người bệnh NSCLC tiến triển tại chỗ hoặc di căn có đột biến T790M sau khi kháng liệu pháp EGFR TKI. Tình trạng đột biến EGFR T790M dương tính của người tham gia được xác định bằng xét nghiệm cobas tại phòng thí nghiệm trung tâm trước điều trị. Huyết tương thu thập lúc sàng lọc cũng được dùng để đánh giá đột biến T790M qua DNA khối u tự do trong tuần hoàn (ctDNA). Tiêu chí đánh giá hiệu quả chính là thời gian sống không bệnh tiến triển (PFS) do nghiên cứu viên ghi nhận. Các tiêu chí phụ gồm tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR), thời gian đáp ứng (DoR) và thời gian sống còn toàn bộ (OS). Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên theo tỷ lệ 2:1 vào nhóm dùng Tagrisso (n=279) hoặc nhóm hóa trị kép chứa platinum (n=140), có phân tầng theo chủng tộc (Á hoặc không phải Á). Nhóm Tagrisso uống liều 80 mg với tần suất 1 lần /ngày cho tới khi xuất hiện độc tính không dung nạp hoặc không còn nhận được lợi ích lâm sàng. Nhóm hóa trị sử dụng phác đồ pemetrexed 500 mg/m2 kết hợp carboplatin AUC5 hoặc cisplatin 75 mg/m2 vào ngày thứ 1 của chu kỳ 21 ngày, kéo dài tối đa 6 chu kỳ. Những người không tiến triển bệnh sau 4 chu kỳ hóa trị chứa platinum được điều trị duy trì bằng pemetrexed (500 mg/m2 vào ngày 1 của chu kỳ 21 ngày). Người bệnh thuộc nhánh hóa trị bị tiến triển bệnh trên chẩn đoán hình ảnh được phép chuyển sang dùng Tagrisso. Đặc điểm nền của mẫu nghiên cứu: tuổi trung vị 62 tuổi, tỷ lệ bệnh nhân ≥ 75 tuổi chiếm 15% , nữ giới chiếm 64% , người da trắng chiếm 32% , người gốc Á chiếm 65% , người không hút thuốc chiếm 68% , và 100% đối tượng có chỉ số trạng thái tâm thần vận động WHO là 0 hoặc 1. Tỷ lệ di căn tạng ngoài lồng ngực là 54% , trong đó di căn não chiếm 34% , di căn gan chiếm 23% , và di căn xương chiếm 41% . Kết quả từ AURA3 cho thấy PFS ở nhóm Tagrisso vượt trội rõ rệt so với nhóm hóa trị. Bảng 1. Kết quả điều trị từ nghiên cứu AURA3 theo đánh giá của nghiên cứu viên Tham số hiệu lực Tagrisso (N=279) Hóa trị (N=140) Thời gian sống không bệnh tiến triển (PFS) Số biến cố (% bệnh nhân có xảy ra biến cố) 140 (50) 110 (79) Trung vị, Tháng (95% CI) 10,1 (8,3; 12) 4,4 (4,2; 5,6) HR (95%CI); Trị số P 0,30 (0,23; 0,41); Trị số P <0,001 Thời gian sống còn toàn bộ (OS) 1 Số bệnh nhân tử vong (% bệnh nhân có xảy ra biến cố) 69 (24,7) 40 (28,6) OS trung vị, Tháng (95% CI) NC (20,5; NC) NC (20,5; NC) HR (95%CI); Trị số P 0,72 (0,48; 1,09); Trị số P = 0,121 Tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) 2 Số bệnh nhân đáp ứng. Tỷ lệ đáp ứng (95% CI) 197 44 Tỷ số chênh Odds ratio (95% CI); Trị số P 71% (65; 76) 31% (24; 40) Thời gian đáp ứng (DoR) 2 5,4 (3,5; 8,5); Trị số P<0,001 Trung vị, Tháng (95% CI) 9,7 (8,3; 1,16) 4,1 (3,0; 5,6) HR (Hazard Ratio) = tỷ số rủi ro; CI (confidence interval) = khoảng tin cậy; NC = chưa tính được. Hiệu quả điều trị được xác định dựa trên tiêu chuẩn RECIST. 1: Phân tích OS ban đầu thực hiện sau phân tích PFS khoảng 4 tháng, không hiệu chỉnh cho nhóm hóa trị chuyển sang dùng Osimertinib (gồm 94 bệnh nhân, tương đương 67% nhánh hóa trị). 2: Kết quả ORR và DoR từ nghiên cứu viên tương đồng với kết quả từ Hội đồng độc lập thẩm định mù (BICR). Theo BICR, ORR đạt 64,9% (95% CI: 59,0; 70,5) ở nhóm Osimertinib và 34,3 % (95% CI: 26,5; 42,8) ở nhóm hóa trị; DoR đạt 11,2 tháng (95% CI: 8,3; NC) ở nhóm Osimertinib so với 3,1 tháng (95% CI: 2,9; 4,3) ở nhóm hóa trị. Phân tích độ nhạy PFS do BICR thực hiện ghi nhận trung vị PFS là 11,0 tháng ở nhóm Tagrisso so với 4,2 tháng ở nhóm hóa trị (HR 0,28; 95% CI: 0,20; 0,38), đồng nhất với đánh giá của nghiên cứu viên. Lợi ích cải thiện PFS (HR Dữ liệu về hiệu quả trên bệnh nhân di căn não trong nghiên cứu AURA3 Bệnh nhân tham gia nghiên cứu có tình trạng di căn não ổn định, không triệu chứng và không dùng corticosteroids ít nhất 4 tuần trước điều trị. Bảng 2 thể hiện kết quả đánh giá của BICR trên hệ thần kinh trung ương theo tiêu chuẩn RECIST v1.1 ở 116 bệnh nhân (chiếm 28% tổng số 419 người) có di căn não được xác định bằng hình ảnh học sọ não lúc ban đầu. Bảng 2: Hiệu quả trên hệ thần kinh trung ương theo BICR trên bệnh nhân di căn não xác định bằng phương tiện chẩn đoán hình ảnh sọ não trong nghiên cứu AURA3 Tham số hiệu lực Tagrisso Hóa trị Tỷ lệ đáp ứng khách quan trên hệ thần kinh trung ương (CNS) 1 Tỷ lệ đáp ứng (ORR) trên CNS % (n/N) (95% CI) 70% (21/30) (51; 85) 31% (5/16) ( 11% ; 59%) Tỷ suất chênh (95% CI); Trị số P 5,1 (1,4; 21); 0,015 Thời gian đáp ứng (DoR) trên CNS 2 Trung vị, Tháng (95% CI) 8,9 (4,3; NC) 5,7 (NC; NC) Tỷ lệ kiểm soát bệnh (DCR) trên CNS Số bệnh nhân đã được kiểm soát Tỷ lệ kiểm soát bệnh trên CNS 87% (65/75) (77; 93) 68% (28/41) (52; 82) Tỷ suất chênh (95% CI); Trị số P 3 (1,2; 7,9); 0,021 Thời gian sống không bệnh tiến triển (PFS) trên CNS N=75 N=41 Số biến cố (% bệnh nhân có xảy ra biến cố) 19 (25) 16 ( 39% ) Trung vị, Tháng (95% CI) 11,7 (10; NC) 5,6 (4,2; 9,7) HR (95% CI); Trị số P 0,32 (0,15; 0,69); 0,004 1: ORR và DoR trên CNS được xác định theo tiêu chuẩn RECIST v1.1 do BICR đánh giá trên nhóm bệnh nhân có tổn thương não đo lường được lúc ban đầu (n=30 ở nhóm Tagrisso và n=16 ở nhóm hóa trị). 2: DoR tính trên nhóm có đáp ứng, tính từ thời điểm đáp ứng đầu tiên đến khi bệnh tiến triển hoặc tử vong. DCR là tỷ lệ bệnh nhân đạt đáp ứng hoặc giữ bệnh ổn định từ 26 tuần trở lên. 3: PFS trên CNS được đánh giá theo tiêu chuẩn RECIST v1.1 do BICR thực hiện trên toàn bộ nhóm bệnh nhân có tổn thương não đo lường được hoặc không đo lường được lúc ban đầu (n=75 ở nhóm Tagrisso và n=41 ở nhóm hóa trị). Chỉ số HR Kết quả do bệnh nhân ghi nhận Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (HRQL) và các triệu chứng lâm sàng được người bệnh tự báo cáo qua thiết bị điện tử bằng bảng câu hỏi EORTC QLQ-C30 và EORTC QLQ-LC13. Bảng câu hỏi LC13 được thực hiện hàng tuần trong 6 tuần đầu, sau đó giãn ra mỗi 3 tuần. Bảng câu hỏi C30 được thực hiện định kỳ mỗi 6 tuần. Phân tích triệu chứng chính: Tagrisso giúp cải thiện rõ rệt 5 triệu chứng ung thư phổi chính (chán ăn, ho, đau ngực, khó thở, mệt mỏi) so với hóa trị trong suốt 6 tháng đầu sau phân nhóm ngẫu nhiên. Bảng 3. Đánh giá lặp lại mô hình hỗn hợp (Mixed Model Repeated Measures) – Các triệu chứng ung thư phổi chính – thay đổi đáng kể so với ban đầu ở nhánh dùng Tagrisso so với nhánh hóa trị Chán ăn Ho Đau ngực Khó thở Mệt mỏi Nhánh điều trị Tagrisso (279) Hóa trị (140) Tagrisso (279) Hóa trị (140) Tagrisso (279) Hóa trị (140) Tagrisso (279) Hóa trị (140) Tagrisso (279) Hóa trị (140) Số bệnh nhân (N) 239 97 228 113 228 113 228 113 239 97 Giá trị trung bình hiệu chỉnh -5,51 2,73 -12,22 -6,69 -5,15 0,22 -5,61 1,48 -5,68 4,71 Sự khác biệt ước tính (95%CI) -8,24 (-12,88; 3,60) -5,53 (-8,89; -2,17) -5,36 (-8,20;-2,53) -7,09 (-9,86;-4,33) -10,39 (-14,55; -6,23) Trị số p p < 0,001 p = 0,001 p < 0,001 p < 0,001 p < 0,001 Mô hình MMRM hiệu chỉnh các yếu tố: bệnh nhân, điều trị, thời điểm thăm khám, tương tác điều trị - thăm khám, điểm số triệu chứng ban đầu, tương tác triệu chứng ban đầu - thăm khám và ma trận phương sai không cấu trúc. Về HRQL và chức năng thể chất: Nhóm dùng Tagrisso đạt tỷ lệ cải thiện ý nghĩa lâm sàng (≥ 10 điểm trên thang đo EORTC C30) cao hơn rõ rệt so với nhóm hóa trị. Tỷ suất chênh (OR) đối với sức khỏe toàn cầu đạt 2,11 (95% CI 1,24; 3,67; p=0,007) và đối với chức năng thể chất đạt 2,79 (95% CI 1,50; 5,46; p=0,002). Bệnh nhân NSCLC có đột biến T790M trước khi điều trị – trong nghiên cứu AURAex và AURA2 Hai nghiên cứu nhãn đơn nhánh gồm AURAex (pha 2 mở rộng, n=201) và AURA2 (pha 2, n=210) được tiến hành trên bệnh nhân NSCLC có đột biến EGFR T790M đã tiến triển sau các liệu pháp điều trị toàn thân trước đó (bao gồm EGFR TKI). Đột biến T790M được xác định bằng bộ kit cobas tại phòng xét nghiệm trung tâm, kết hợp đánh giá hồi cứu ctDNA từ huyết tương. Bệnh nhân dùng Tagrisso liều 80 mg , tần suất 1 lần /ngày. Tiêu chí chính là ORR theo đánh giá của BICR (RECIST v1.1), tiêu chí phụ gồm DoR và PFS. Đặc điểm mẫu gộp (AURAex và AURA2): tuổi trung vị 63 tuổi, nhóm ≥ 75 tuổi chiếm 13% , nữ giới chiếm 68% , người da trắng chiếm 36% , người gốc Á chiếm 60% . Tất cả đã qua ít nhất một dòng điều trị trước đó: 31% (N=129) đã dùng 1 liệu pháp EGFR-TKI trước đó, 69% (N=282) đã qua từ 2 dòng điều trị trở lên. Tỷ lệ không hút thuốc là 72% , chỉ số trạng thái WHO đạt 0 hoặc 1 là 100% . Di căn tạng ngoài lồng ngực chiếm 59% , di căn não chiếm 39% , di căn gan chiếm 29% và di căn xương chiếm 47% . Thời gian theo dõi PFS trung vị là 12,6 tháng. Trong số 411 bệnh nhân có đột biến T790M dương tính, ORR chung theo BICR đạt 66% (95% CI: 61; 71). Trung vị DoR ở nhóm đáp ứng là 12,5 tháng (95% CI: 11,1; NE). Tỷ lệ ORR riêng biệt trong AURAex và AURA2 lần lượt là 62% (95% CI: 55; 68) và 70% (95% CI: 63; 77). Trung vị PFS đạt 11,0 tháng (95% CI: 9,6; 12,4). Tỷ lệ ORR theo BICR duy trì trên 50% ở tất cả các phân nhóm phân tích. Thời điểm ghi nhận đáp ứng đầu tiên (sau 6 tuần) đạt 85% (223/262) và tại lần đánh giá thứ hai (sau 12 tuần) đạt 94% (247/262). Dữ liệu hiệu quả trên bệnh nhân di căn CNS trong các nghiên cứu pha 2 (AURAex và AURA2) Phân tích trên phân nhóm 50 bệnh nhân có tổn thương não đo lường được cho thấy ORR trên CNS đạt 54% (27/50 bệnh nhân; 95% CI: 39,3; 68,2), trong đó tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn là 12% . Chưa có thử nghiệm lâm sàng của Tagrisso trên bệnh nhân NSCLC mang đột biến EGFR T790M nguyên phát (de novo). Trẻ em: Chưa xác định độ an toàn và hiệu quả của Tagrisso ở đối tượng dưới 18 tuổi do thiếu dữ liệu lâm sàng. Hấp thu và chuyển hoá thuốc (Dược động học) Các chỉ số dược động học của Osimertinib được ghi nhận ở người khỏe mạnh và bệnh nhân NSCLC. Theo phân tích dược động học quần thể, độ thanh thải biểu kiến là 14,2 L/giờ, thể tích phân bố biểu kiến là 997 L và thời gian bán thải pha cuối khoảng 48 giờ. AUC và Cmax tăng tuyến tính theo liều trong khoảng từ 20 mg đến 240 mg . Chế độ liều 1 lần/ngày làm tăng tích lũy thuốc khoảng 3 lần , đạt trạng thái ổn định sau 15 ngày. Ở trạng thái ổn định, nồng độ thuốc trong máu duy trì ổn định ở mức gấp 1,6 lần trong khoảng thời gian 24 giờ giữa các liều. Hấp thu Sau khi uống Tagrisso, nồng độ đỉnh trong huyết tương của Osimertinib đạt được sau thời gian tmax trung vị là 6 giờ (dao động từ 3-24 giờ). Sinh khả dụng tuyệt đối của thuốc chưa được xác định cụ thể. Nghiên cứu ở liều 80 mg cho thấy thức ăn không gây ảnh hưởng có ý nghĩa lâm sàng đến sinh khả dụng của thuốc (AUC tăng 6% và Cmax giảm 7% ). Khi dùng chung 1 viên 80 mg với omeprazole trong 5 ngày (làm tăng pH dạ dày), nồng độ và mức tiếp xúc của Osimertinib không bị ảnh hưởng (AUC và Cmax tăng lần lượt 7% và 2% , với khoảng tin cậy 90% nằm trong giới hạn 80-125%). Phân bố Thể tích phân bố trung bình ở trạng thái ổn định (Vss/F) là 997 L, chứng tỏ thuốc phân bố rất rộng vào các mô cơ thể. Do tính không ổn định, tỷ lệ liên kết protein huyết tương chưa thể đo lường trực tiếp nhưng được dự đoán là rất cao dựa trên đặc tính lý hóa. Osimertinib liên kết tương đương với protein huyết tương và albumin của người và chuột. Biến đổi sinh học In vitro, Osimertinib chuyển hóa chủ yếu qua hệ enzym CYP3A4 và CYP3A5, trong đó CYP3A4 có thể là đường phụ. Hai chất chuyển hóa có hoạt tính sinh học được tìm thấy là AZ7550 và AZ5104. AZ7550 có hoạt lực tương đương Tagrisso, còn AZ5104 mạnh hơn trên cả thụ thể EGFR đột biến và không đột biến (wild-type). Cả hai chất chuyển hóa xuất hiện chậm trong huyết tương với tmax trung bình lần lượt là 24 giờ (4-72 giờ) đối với AZ7550 và 24 giờ (6-72 giờ) đối với AZ5104. Trong huyết tương người, Osimertinib chiếm 0,8% tổng lượng phóng xạ, trong khi hai chất chuyển hóa lần lượt chiếm 0,08% và 0,07%. Diện tích dưới đường cong (AUC) của AZ5104 và AZ7550 ở trạng thái ổn định chiếm khoảng 10% so với Osimertinib . Con đường chuyển hóa chính là oxy hóa và khử alkyl. Có 12 chất chuyển hóa được phát hiện trong nước tiểu và phân, với 5 chất chiếm trên 1% liều dùng. Dạng chưa chuyển hóa của Osimertinib , AZ5104 và AZ7550 lần lượt chiếm 1,9% , 6,6% và 2,7% liều dùng; sản phẩm cộng cysteinyl (M21) và chất chuyển hóa M25 lần lượt chiếm 1,5% và 1,9% liều dùng. In vitro, Osimertinib ức chế cạnh tranh CYP3A4/5 nhưng không ức chế các enzym CYP1A2, 2A6, 2B6, 2C8, 2C9, 2C19, 2D6 và 2E1 ở nồng độ lâm sàng. Thuốc cũng không ức chế UGT1A1 và UGT2B7 ở gan, dù có thể gây ức chế UGT1A1 ở ruột. Thải trừ Sau khi uống liều đơn 20 mg , sau 84 ngày thu mẫu, ghi nhận 67,8% liều đào thải qua phân (trong đó 1,2% ở dạng nguyên vẹn) và 14,2% đào thải qua nước tiểu (với 0,8% ở dạng nguyên vẹn). Dạng chưa chuyển hóa chiếm khoảng 2% tổng lượng thải trừ ( 0,8% qua nước tiểu và 1,2% qua phân). Tương tác với protein vận chuyển Osimertinib không phải là chất nền của OATP1B1 và OATP1B3. Ở nồng độ lâm sàng, thuốc không ức chế OAT1, OAT3, OATP1B1, OATP1B3 và MATE2K, nhưng chưa loại trừ khả năng tương tác với MATE1 và OCT2. Thuốc là chất nền của P-gp và BCRP nhưng ít có nguy cơ gây tương tác lâm sàng ở liều điều trị. Osimertinib hoạt động như một chất ức chế BCRP và P-gp. Trên các nhóm dân số đặc biệt Phân tích dược động học quần thể (n=1088) cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa lâm sàng về mức tiếp xúc (AUCss) theo tuổi tác (25-91 tuổi), giới tính (nữ chiếm 65% ), chủng tộc hoặc tình trạng hút thuốc. Trọng lượng cơ thể là một biến số ảnh hưởng đến AUCss, tuy nhiên mức thay đổi ở người nặng từ 43kg đến 89kg chỉ dưới 20% so với người có cân nặng trung vị 60kg. Khi cân nặng thay đổi từ dưới 43kg đến trên 89kg, tỷ lệ chất chuyển hóa AZ5104 dao động từ 11,8% xuống 9,6% , và AZ7550 dao động từ 12,8% xuống 8,1% . Nồng độ albumin huyết thanh cũng ảnh hưởng đến AUCss (dao động từ -15% đến + 30% tương ứng với mức albumin từ 29% đến 46 g /L so với mức trung vị 39 g /L). Những thay đổi này không được coi là có ý nghĩa lâm sàng. Bệnh nhân suy giảm chức năng gan: Do thuốc thải trừ chủ yếu qua gan, suy gan có thể làm tăng mức tiếp xúc. Phân tích dược động học quần thể không thấy mối liên hệ giữa các chỉ số ALT, AST, bilirubin với mức tiếp xúc thuốc, ngoại trừ nồng độ albumin. Các thử nghiệm lâm sàng đã loại trừ bệnh nhân có AST hoặc ALT > 2,5 lần giới hạn trên bình thường (ULN) (hoặc > 5,0xULN nếu do u di căn) hoặc bilirubin toàn phần > 1,5xULN. Dữ liệu dược động học ở 104 người suy gan nhẹ, 8 người suy gan trung bình và 972 người có chức năng gan bình thường cho thấy mức tiếp xúc tương đương nhau. Dữ liệu trên đối tượng suy gan nặng còn rất hạn chế. Bệnh nhân suy giảm chức năng thận: Mức tiếp xúc Osimertinib tương đồng giữa các nhóm chức năng thận khác nhau dựa trên phân tích quần thể gồm: 471 người suy thận nhẹ (CLcr 60 đến 90ml /phút), 208 người suy thận vừa (CLcr 30ml đến 60ml /phút), 5 người suy thận nặng (CLcr 15ml đến 30ml /phút) và 402 người có chức năng thận bình thường (≥ 90ml /phút). Nghiên cứu chưa bao gồm bệnh nhân có CLcr 15ml /phút.

Thành phần

Thành phần của Thuốc Tagrisso 80mg AstraZeneca Mỗi 1 viên nén của sản phẩm được cấu tạo từ hoạt chất chính là Osimertinib với hàm lượng tương đương 80 mg (hoặc 80mg ).

Cách dùng

Cách dùng Thuốc Tagrisso 80mg Hướng dẫn cách sử dụng Sử dụng thuốc bằng đường uống. Người bệnh cần nuốt nguyên viên thuốc cùng nước, tuyệt đối không nhai, bẻ đôi hay nghiền nát. Đối với người bệnh gặp khó khăn khi nuốt nguyên viên, có thể hòa tan thuốc trong 50ml nước không ga. Thả trực tiếp viên thuốc vào nước mà không nghiền, tiến hành khuấy đều tới khi thuốc phân tán hoàn toàn rồi uống ngay lập tức. Để đảm bảo không bỏ sót cặn thuốc, hãy thêm nửa ly nước vào tráng lại cốc và uống hết ngay. Không dùng bất kỳ loại nước nào khác ngoài nước lọc để pha. Khi cần đưa thuốc qua ống thông dạ dày, quy trình phân tán tương tự như trên sẽ được áp dụng, nhưng thể tích nước sử dụng là 15ml cho lần hòa tan đầu tiên và 15ml cho lần tráng cốc. Tổng cộng 30ml dịch thuốc này sẽ được bơm vào ống thông theo chỉ dẫn từ nhà sản xuất thiết bị, kết hợp cùng lượng nước tráng ống thông phù hợp. Toàn bộ quá trình từ lúc hòa tan đến khi hoàn tất bơm thuốc và tráng ống cần được thực hiện trong vòng 30 phút. Liều dùng phù hợp Việc điều trị bằng Tagrisso yêu cầu sự khởi đầu và giám sát từ bác sĩ chuyên khoa có kinh nghiệm trong lĩnh vực ung thư. Trước khi chỉ định Tagrisso cho người bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) ở giai đoạn tiến triển tại chỗ hoặc di căn, việc xác định sự hiện diện của đột biến EGFR T790M bằng các xét nghiệm đã được phê duyệt là bắt buộc. Liều lượng khuyến cáo Liều dùng thông thường là 80 mg Tagrisso, uống 1 lần mỗi ngày. Quá trình điều trị được duy trì liên tục cho tới khi phát hiện bệnh tiến triển hoặc xuất hiện các độc tính không thể dung nạp. Nếu bỏ lỡ một liều Tagrisso, người bệnh cần uống bù ngay, trừ khi thời điểm nhớ ra cách liều kế tiếp dưới 12 giờ. Điều chỉnh liều lượng Tùy thuộc vào mức độ dung nạp và tính an toàn trên từng cá thể, bác sĩ có thể tạm ngưng hoặc giảm liều điều trị. Mức liều giảm khuyến cáo là 40 mg, uống 1 lần mỗi ngày. Chi tiết về việc xử trí và giảm liều khi xảy ra các phản ứng bất lợi được hướng dẫn cụ thể trong Bảng 4. Cơ quan đích Phản ứng ngoại ý a Chỉnh liều Phổi Bệnh phổi kẽ (ILD)/Viêm phổi Ngưng vĩnh viễn Tagrisso Tim Khoảng QTc lớn hơn 500 mili giây trên tối thiểu 2 lần đo ECGs riêng biệt Ngưng dùng Tagrisso cho đến khi khoảng QTc nhỏ hơn 481 mili giây hoặc hồi phục về mức cơ bản nếu mức cơ bản QTc lớn hơn hoặc bằng 481 mili giây, sau đó khởi đầu lại với liều giảm (40 mg) Khoảng QTc kéo dài kèm dấu hiệu/triệu chứng loạn nhịp trầm trọng Ngưng vĩnh viễn Tagrisso Khác Phản ứng ngoại ý cấp độ 3 hoặc lớn hơn Ngưng dùng Tagrisso cho đến 3 tuần Nếu phản ứng ngoại ý cấp độ 3 hoặc lớn hơn được cải thiện xuống cấp độ 0-2 sau khi ngưng dùng Tagrisso cho đến 3 tuần Có thể khởi đầu lại Tagrisso với cùng liều (80 mg) hoặc liều giảm (40 mg) Nếu phản ứng ngoại ý cấp độ 3 hoặc lớn hơn không được cải thiện xuống cấp độ 0-2 sau khi ngưng dùng Tagrisso cho đến 3 tuần Ngưng vĩnh viễn Tagrisso Ghi chú: cấp độ phản ứng ngoại ý trên lâm sàng dựa trên Tiêu chuẩn Đánh giá các biến cố bất lợi (CTCAE) phiên bản 4.0 của Viện Ung thư quốc gia Hoa Kỳ (NCI). ECGs: điện tâm đồ; QTc: khoảng QT điều chỉnh trên nhịp tim. Các đối tượng đặc biệt: Không cần thay đổi liều lượng thuốc dựa theo các yếu tố như tuổi tác, cân nặng, giới tính, chủng tộc hay thói quen hút thuốc của người bệnh. Người bệnh suy giảm chức năng gan Chưa có các thử nghiệm lâm sàng chuyên biệt nhằm đánh giá ảnh hưởng của suy gan đối với dược động học của Tagrisso. Không cần thay đổi liều ở những người bệnh suy gan mức độ nhẹ (nồng độ bilirubin toàn phần ≤ giới hạn trên bình thường (ULN) kèm men AST > ULN, hoặc bilirubin toàn phần từ > 1,0 đến 1,5 lần ULN kèm bất kỳ mức AST nào) hoặc suy gan mức độ trung bình (bilirubin toàn phần từ 1,5 đến 3 lần ULN kèm bất kỳ mức AST nào). Dù vậy, việc dùng Tagrisso cho nhóm đối tượng này vẫn cần sự cẩn trọng. Do mức độ an toàn và hiệu quả của thuốc chưa được xác định ở người bệnh suy gan nặng, việc điều trị cho nhóm đối tượng này không được khuyến cáo cho đến khi có thêm dữ liệu mới. Người bệnh suy giảm chức năng thận Chưa có các thử nghiệm lâm sàng chuyên biệt nhằm đánh giá ảnh hưởng của suy thận đối với dược động học của Tagrisso. Không cần điều chỉnh liều cho người bệnh suy thận ở các mức độ nhẹ, trung bình hoặc nặng, tuy nhiên dữ liệu lâm sàng ở nhóm suy thận nặng còn rất hạn chế. Đối với người bệnh suy thận giai đoạn cuối (độ thanh thải creatinin [CLcr] dưới 15ml/phút tính theo công thức Cockcroft và Gault) hoặc người đang chạy thận nhân tạo, tính an toàn và hiệu quả của thuốc chưa được thiết lập. Cần đặc biệt thận trọng khi chỉ định điều trị cho người bệnh suy thận nặng hoặc suy thận giai đoạn cuối. Trẻ em Độ an toàn và hiệu quả của Tagrisso đối với trẻ em và trẻ vị thành niên dưới 18 tuổi chưa được chứng minh do chưa có dữ liệu lâm sàng. Lưu ý: Liều lượng nêu trên chỉ mang tính chất tham khảo. Liều dùng thực tế sẽ được bác sĩ hoặc chuyên viên y tế quyết định dựa trên thể trạng cụ thể và tiến trình phát triển bệnh của mỗi người. Khi dùng quá liều phải làm sao? Trong các thử nghiệm lâm sàng, một số ít người bệnh đã sử dụng Tagrisso với liều hằng ngày lên tới 240 mg mà không xuất hiện các độc tính giới hạn liều. Tuy nhiên, ở những nghiên cứu này, việc dùng thuốc với liều hằng ngày 160 mg và 240 mg làm gia tăng cả tần suất lẫn mức độ nghiêm trọng của các phản ứng có hại đặc trưng do chất ức chế EGFR TKI gây ra (điển hình là nổi mẩn da và tiêu chảy) khi so sánh với liều 80 mg. Các báo cáo về tình trạng quá liều vô ý trên người rất hạn chế, chủ yếu là các trường hợp đơn lẻ do nhầm lẫn trong sử dụng và không để lại hậu quả lâm sàng nào. Hiện không có biện pháp giải độc đặc hiệu cho trường hợp quá liều Tagrisso. Khi nghi ngờ quá liều, cần ngừng thuốc ngay và tiến hành các biện pháp điều trị triệu chứng. Trong tình huống khẩn cấp, người nhà cần liên hệ ngay Trung tâm cấp cứu 115 hoặc đưa người bệnh tới cơ sở y tế gần nhất để được xử trí. Khi quên 1 liều cần làm gì? Hãy uống bù liều đã quên ngay khi nhớ ra. Tuy nhiên, nếu thời điểm nhớ ra quá gần với thời gian dùng liều tiếp theo, hãy bỏ qua liều quên và tiếp tục uống thuốc theo lịch trình cũ. Tuyệt đối không tự ý uống gấp đôi liều để bù cho liều đã lỡ.

Lưu ý và cảnh báo

Những điều cần lưu ý khi sử dụng Người bệnh cần đọc kỹ hướng dẫn sử dụng và tìm hiểu các thông tin y khoa dưới đây trước khi bắt đầu điều trị. Trường hợp không nên sử dụng Không dùng thuốc Tagrisso cho các đối tượng sau: Người có tiền sử dị ứng hoặc quá mẫn với hoạt chất chính hay bất kỳ thành phần tá dược nào của thuốc. Bệnh nhân đang điều trị bằng thuốc St. John’s Wort. Cảnh báo và thận trọng Xác định đột biến EGFR T790M Trước khi chỉ định Tagrisso cho người mắc ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) ở giai đoạn di căn hoặc tiến triển tại chỗ, việc kiểm tra tình trạng đột biến EGFR T790M là bắt buộc. Quá trình này cần thực hiện thông qua các xét nghiệm được cấp phép, sử dụng mẫu DNA tách từ mô khối u hoặc DNA khối u tự do trong hệ tuần hoàn (ctDNA) lấy từ huyết tương. Yêu cầu sử dụng các kỹ thuật xét nghiệm có độ nhạy, độ tin cậy, độ tái lập cao và đã được chứng minh về hiệu quả lâm sàng để phân tích mẫu mô hoặc mẫu huyết tương. Kết quả dương tính với đột biến T790M từ một trong hai loại mẫu trên là cơ sở để chỉ định điều trị bằng Tagrisso. Tuy nhiên, do nguy cơ xuất hiện kết quả âm tính giả khi phân tích ctDNA trong huyết tương, những trường hợp có kết quả âm tính từ nguồn này được khuyến cáo nên tiến hành sinh thiết và xét nghiệm lại trên mẫu mô nếu điều kiện cho phép. Bệnh phổi mô kẽ (ILD) Các thử nghiệm lâm sàng ghi nhận một số trường hợp xuất hiện bệnh phổi mô kẽ (ILD) hoặc các phản ứng tương tự (như viêm phổi) ở mức độ nặng, đe dọa tính mạng hoặc dẫn đến tử vong khi dùng Tagrisso. Phần lớn các triệu chứng này thuyên giảm hoặc hết hẳn sau khi ngừng thuốc. Những bệnh nhân có tiền sử bị ILD, viêm phổi do xạ trị cần can thiệp bằng steroid, từng dùng thuốc gây ILD hoặc có biểu hiện lâm sàng của ILD tiến triển đều không được tham gia vào các nghiên cứu này. Số liệu từ các nghiên cứu AURA trên tổng số 833 người bệnh cho thấy tỷ lệ gặp ILD hoặc phản ứng tương tự là 3,5%, trong đó có 0,6% trường hợp tử vong. Tần suất xuất hiện biến cố này có sự khác biệt theo chủng tộc: chiếm 8,2% ở nhóm bệnh nhân Nhật Bản, 1,9% ở nhóm bệnh nhân Châu Á nói chung và 2,9% ở nhóm bệnh nhân ngoài Châu Á. Cần tiến hành thăm khám lâm sàng kỹ lưỡng để loại trừ nguy cơ ILD đối với những người đột ngột khởi phát hoặc bị nặng hơn các triệu chứng hô hấp không rõ nguyên nhân (như ho, sốt, khó thở). Trong thời gian làm xét nghiệm chẩn đoán, phải tạm dừng dùng thuốc. Nếu xác định chính xác bệnh nhân bị ILD, cần ngừng sử dụng Tagrisso vĩnh viễn và áp dụng các biện pháp điều trị y tế phù hợp. Kéo dài khoảng QTc Hiện tượng kéo dài khoảng QTc có thể xảy ra trong quá trình điều trị bằng Tagrisso, làm tăng nguy cơ đột tử hoặc gặp các hội chứng nhịp nhanh thất (như xoắn đỉnh). Các nghiên cứu AURAex và AURA2 không ghi nhận biến cố loạn nhịp nào và đã loại trừ ngay từ đầu những bệnh nhân có bất thường nghiêm trọng về dẫn truyền hoặc nhịp tim trên điện tâm đồ (ECG) lúc nghỉ (như khoảng QTc lớn hơn 470 mili giây). Hạn chế chỉ định thuốc cho người mắc hội chứng QT kéo dài bẩm sinh. Đối với bệnh nhân bị suy tim sung huyết, rối loạn điện giải hoặc đang dùng các thuốc có khả năng kéo dài khoảng QTc, cần thực hiện theo dõi định kỳ điện tâm đồ và nồng độ điện giải. Nếu kết quả đo ECG ghi nhận khoảng QTc vượt quá 500 mili giây ở tối thiểu 2 lần đo riêng biệt, phải tạm ngừng thuốc cho đến khi chỉ số này giảm xuống dưới 481 mili giây (hoặc trở về mức nền ban đầu nếu mức nền trước đó lớn hơn hoặc bằng 481 mili giây). Sau đó, có thể cho người bệnh dùng lại thuốc với liều lượng đã được giảm. Phải ngừng điều trị bằng Tagrisso vĩnh viễn nếu tình trạng kéo dài khoảng QTc đi kèm với các biểu hiện: xoắn đỉnh, nhịp nhanh thất đa dạng hoặc các triệu chứng loạn nhịp tim nghiêm trọng khác. Thay đổi tính co thắt cơ tim Trong các thử nghiệm lâm sàng, có 4,0% (26/655) bệnh nhân (được đo LVEF lúc bắt đầu và có ít nhất 1 lần kiểm tra sau đó) gặp tình trạng phân suất tống máu thất trái (LVEF) giảm từ 10% trở lên và xuống dưới mức 50%. Mặc dù vậy, các dữ liệu hiện tại chưa đủ để khẳng định mối quan hệ nhân quả giữa Tagrisso và sự suy giảm co bóp cơ tim. Đối với người bệnh có sẵn yếu tố nguy cơ tim mạch hoặc các bệnh lý ảnh hưởng đến LVEF, bác sĩ nên chỉ định đánh giá chức năng tim (bao gồm đo LVEF) trước khi điều trị và theo dõi định kỳ. Khi xuất hiện các dấu hiệu nghi ngờ liên quan đến tim trong quá trình dùng thuốc, việc kiểm tra chức năng tim và LVEF cũng cần được thực hiện. Viêm giác mạc Tỷ lệ gặp viêm giác mạc được ghi nhận là 0,7% (6 trên tổng số 833 bệnh nhân) trong các nghiên cứu AURA. Người bệnh cần đến khám chuyên khoa mắt ngay khi xuất hiện các triệu chứng bất thường như: đau mắt, đỏ mắt, nhìn mờ, chảy nước mắt, nhạy cảm với ánh sáng, hoặc tình trạng viêm mắt tiến triển xấu đi. Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú Thời kỳ mang thai Dữ liệu về việc sử dụng Tagrisso ở thai phụ hiện còn rất hạn chế. Thử nghiệm trên động vật cho thấy thuốc có độc tính đối với hệ sinh sản, gây sảy thai, cản trở sự phát triển của phôi thai và làm tăng tỷ lệ tử vong chu sinh. Dựa trên cơ chế hoạt động, Tagrisso có nguy cơ gây hại trực tiếp cho thai nhi. Do đó, không dùng thuốc này cho phụ nữ mang thai, trừ trường hợp tình trạng bệnh lý của người mẹ bắt buộc phải can thiệp bằng Tagrisso. Biện pháp ngừa thai cho nam giới và phụ nữ Nữ giới trong độ tuổi sinh sản được khuyến cáo không nên mang thai trong thời gian điều trị. Sau khi kết thúc liều Tagrisso cuối cùng, cần duy trì các biện pháp tránh thai hiệu quả trong ít nhất 2 tháng đối với nữ giới và 4 tháng đối với nam giới. Cần lưu ý rằng thuốc có thể làm giảm hiệu lực và nồng độ của các nội tiết tố tránh thai trong cơ thể. Khả năng sinh sản Chưa có nghiên cứu cụ thể về tác động của thuốc đối với khả năng sinh sản của con người. Tuy nhiên, các thử nghiệm trên động vật cho thấy Tagrisso gây ảnh hưởng xấu đến cơ quan sinh sản của cả hai giới và có nguy cơ làm suy giảm khả năng sinh sản. Thời kỳ cho con bú Chưa có báo cáo về việc Tagrisso hoặc các chất chuyển hóa của nó có bài tiết vào sữa mẹ hay không. Mặc dù dữ liệu bài tiết trên động vật chưa đầy đủ, hoạt chất này và các chất chuyển hóa đã được tìm thấy trong cơ thể chó con đang bú mẹ, đồng thời gây ra các phản ứng bất lợi đến sự sống còn và phát triển của chúng. Để tránh nguy cơ gây hại cho trẻ sơ sinh, người mẹ cần ngừng cho con bú trong thời gian dùng Tagrisso. Ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc Tagrisso hầu như không gây ảnh hưởng hoặc chỉ ảnh hưởng không đáng kể đến khả năng vận hành máy móc và điều khiển phương tiện giao thông. Tương tác với thuốc khác Tương tác về dược động học Nồng độ của Tagrisso trong cơ thể có thể bị suy giảm bởi các chất cảm ứng mạnh CYP3A4. Ngược lại, Tagrisso có khả năng làm tăng nồng độ của các chất nền của BCRP khi dùng chung. Các hoạt chất có thể làm tăng nồng độ Tagrisso trong huyết tương Thử nghiệm in vitro chỉ ra rằng quá trình chuyển hóa pha I của Tagrisso chủ yếu do các enzyme CYP3A4 và CYP3A5 đảm nhận. Trong nghiên cứu lâm sàng, việc phối hợp với itraconazole (một chất ức chế mạnh CYP3A4) với liều 200 mg x 2 lần/ngày không gây ra thay đổi có ý nghĩa lâm sàng đối với Tagrisso (diện tích dưới đường cong AUC tăng 24% và nồng độ đỉnh Cmax giảm 20%). Do đó, các chất ức chế CYP3A4 ít có khả năng làm thay đổi nồng độ thuốc. Các enzyme xúc tác khác hiện chưa được xác định. Các hoạt chất có thể làm giảm nồng độ Tagrisso trong huyết tương Một nghiên cứu dược động học trên bệnh nhân cho thấy, khi dùng đồng thời với rifampicin (liều 600 mg/ngày trong vòng 21 ngày), diện tích dưới đường cong ở trạng thái ổn định (AUC steady state) của Tagrisso đã bị giảm tới 78%. Đồng thời, nồng độ của chất chuyển hóa hoạt động AZ5104 cũng bị suy giảm với AUC giảm 82% và Cmax giảm 78%. Vì vậy, không nên phối hợp Tagrisso với các chất cảm ứng mạnh CYP3A (như carbamazepin, phenytoin, rifampicin). Việc dùng chung với các chất cảm ứng CYP3A4 mức độ trung bình (như efavirenz, bosentan, etravirine, modafinil) cũng có thể làm giảm nồng độ thuốc, do đó cần thận trọng hoặc tránh sử dụng nếu có giải pháp thay thế. Hiện chưa có khuyến cáo điều chỉnh liều lượng Tagrisso trong các trường hợp này. Chống chỉ định phối hợp thuốc với St. John’s Wort. Ảnh hưởng của các thuốc kháng acid dạ dày: Nghiên cứu lâm sàng cho thấy việc dùng chung với omeprazole không làm thay đổi nồng độ của Tagrisso một cách có ý nghĩa. Do đó, người bệnh có thể dùng chung Tagrisso với các thuốc điều chỉnh pH dịch vị mà không cần hạn chế. Các hoạt chất có thể bị thay đổi nồng độ do Tagrisso Kết quả in vitro cho thấy Tagrisso đóng vai trò là chất ức chế cạnh tranh đối với protein vận chuyển BCRP. Khi thử nghiệm lâm sàng phối hợp Tagrisso với rosuvastatin (một chất nền nhạy cảm của BCRP), chỉ số AUC và Cmax của rosuvastatin tăng lên lần lượt là 35% và 72%. Những bệnh nhân đang sử dụng các thuốc là chất nền của BCRP có giới hạn điều trị hẹp cần được theo dõi sát sao các biểu hiện quá liều hoặc kém dung nạp, do nồng độ các thuốc này có thể tăng lên khi dùng chung với Tagrisso. Trong một thử nghiệm khác, việc dùng đồng thời Tagrisso với simvastatin (chất nền của CYP3A4) làm giảm AUC của simvastatin đi 9% và Cmax đi 23%. Mức giảm này rất nhỏ và không có ý nghĩa lâm sàng, cho thấy tương tác giữa Tagrisso và các chất nền CYP3A4 ít có khả năng xảy ra. Các tương tác thông qua các enzyme khác được điều hòa bởi thụ thể PXR chưa được nghiên cứu đầy đủ. Tuy nhiên, không loại trừ khả năng thuốc làm giảm nồng độ và tác dụng của các hormone tránh thai khi dùng đồng thời.

Mô tả chi tiết

Thuốc Tagrisso 80mg AstraZeneca là gì? Đối với bệnh nhân trưởng thành đang đối mặt với ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) ở giai đoạn di căn hoặc tiến triển tại chỗ, dòng sản phẩm Tagrisso do tập đoàn AstraZeneca AB sản xuất là một liệu pháp điều trị chuyên biệt. Vai trò của thuốc được chỉ định cụ thể cho những trường hợp ghi nhận kết quả dương tính với đột biến EGFR T790M. Hiệu quả điều trị này được mang lại nhờ hoạt chất chính cấu thành nên sản phẩm là Osimertinib (tồn tại dưới dạng Osimertinib mesylat).

Dữ liệu được ghi nhận vào 2026-08-28T04:04:51.422Z. Dược Hub cung cấp thông tin tham khảo, không bán thuốc trực tuyến và không thay thế tư vấn của bác sĩ hoặc dược sĩ. Giá thuốc và tồn kho không được công bố tại URL này.