Thuốc Giotrif 20mg Boehringer điều trị ung thư phổi (4 vỉ x 7 viên)
Điều trị ung thư phổi không tế bào
- Thương hiệu
- Boehringer Ingelheim
- Phân loại
- Thuốc kê đơn
- Quy cách/đơn vị
- Hộp
- Nhà sản xuất
- BOEHRINGER INGEL
Công dụng / chỉ định
Công dụng của Giotrif 20mg Boehringer Chỉ định sử dụng Đối tượng bệnh nhân trưởng thành mắc ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa tại chỗ hoặc đã di căn, có xuất hiện đột biến thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR) và chưa từng can thiệp bằng các liệu pháp ức chế EGFR Tyrosine Kinase trước đó, được chỉ định điều trị đơn trị liệu bằng GIOTRIF. Cơ chế tác dụng (Dược lực học) Phân loại nhóm điều trị dược lý: Thuốc chống ung thư thuộc nhóm ức chế protein kinase, mã ATC: L01XE13. Cơ chế tác dụng Hoạt chất Afatinib hoạt động như một chất ức chế mạnh mẽ, có tính chọn lọc cao và không thể đảo ngược đối với nhóm ErbB. Bằng cách liên kết cộng hóa trị, hoạt chất này ngăn chặn không hồi phục quá trình truyền tín hiệu từ các homo- và heterodimer được tạo nên bởi những thành viên của họ ErbB, bao gồm: EGFR (ErbB1), HER2 (ErbB2), ErbB3 và ErbB4. Tác dụng dược lý Sự rối loạn tín hiệu ErbB thường bắt nguồn từ hiện tượng đột biến hoặc khuếch đại EGFR, đột biến/khuếch đại HER2, hoặc do sự tăng biểu hiện ligand ErbB. Đây là những yếu tố thúc đẩy các đặc tính bệnh lý bất thường ở nhiều phân nhóm bệnh nhân ung thư khác nhau. Trong các nghiên cứu tiền lâm sàng trên mô hình bệnh lý bị mất kiểm soát con đường ErbB, liệu pháp đơn trị với afatinib cho thấy khả năng ức chế mạnh mẽ sự dẫn truyền tín hiệu của thụ thể ErbB, từ đó kìm hãm sự phát triển hoặc làm thu nhỏ kích thước khối u. Đặc biệt, mô hình ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) mang đột biến EGFR Del 19 hoặc L858R phản hồi rất nhạy với afatinib. Ngoài ra, hoạt chất này vẫn duy trì hiệu quả kháng u thực tế trên các dòng tế bào NSCLC in vitro và mô hình in vivo (như ghép dị loài hoặc chuyển gen) mang đột biến EGFR T790M – biến thể vốn được biết đến là có khả năng kháng lại các chất ức chế EGFR có hồi phục như erlotinib và gefitinib. Thử nghiệm lâm sàng Thông tin chi tiết được cung cấp trong tờ Hướng dẫn sử dụng thuốc. Điện sinh lý tim Khi sử dụng GIOTRIF với liều lượng 50 mg mỗi ngày (áp dụng cho cả chế độ đơn liều và đa liều) trên những bệnh nhân có khối u đặc tái phát hoặc kháng trị, kết quả ghi nhận không có sự kéo dài đáng kể khoảng QTcF. Không có bất kỳ dấu hiệu bất lợi lâm sàng nào đe dọa an toàn tim mạch được phát hiện, chứng minh GIOTRIF không gây ảnh hưởng tiêu cực đến khoảng QTcF. Hấp thu và chuyển hoá thuốc (Dược động học) Hấp thu và phân phối Sau khi người bệnh uống GIOTRIF, hoạt chất afatinib đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương (Cmax) sau khoảng 2 đến 5 giờ. Trong khoảng liều từ 20 mg đến 50 mg, các chỉ số Cmax và AUCa- trung bình tăng cao hơn một chút so với tỷ lệ tăng liều. Khi dùng thuốc cùng bữa ăn nhiều chất béo, sinh khả dụng của afatinib bị suy giảm đáng kể với Cmax giảm 50% và AUC giảm 39% so với lúc bụng đói. Phân tích dược động học quần thể từ các thử nghiệm lâm sàng trên nhiều dạng u khác nhau cũng chỉ ra rằng, việc ăn uống trong vòng 3 giờ trước hoặc 1 giờ sau khi uống GIOTRIF làm giảm trung bình 26% chỉ số AUC,s. Vì lý do trên, người bệnh cần tránh ăn uống tối thiểu 3 giờ trước khi dùng thuốc và ít nhất 1 giờ sau khi uống GIOTRIF (tham khảo thêm tại phần "Liều lượng và cách dùng" và "Tương tác"). So với dạng dung dịch uống, viên nén GIOTRIF đạt sinh khả dụng tương đối trung bình khoảng 92% (tính theo tỷ số trung bình nhân hiệu chỉnh của AUC). Ở điều kiện in vitro, tỷ lệ liên kết của afatinib với protein huyết tương người đạt khoảng 95%. Chuyển hóa và thải trừ Các phản ứng chuyển hóa thông qua xúc tác enzym đóng vai trò rất hạn chế đối với afatinib trong cơ thể sống. Các chất chuyển hóa chủ yếu của hoạt chất này là những sản phẩm liên kết cộng hóa trị với protein. Sau khi sử dụng 15 mg afatinib dạng dung dịch, có 85,4% liều dùng được đào thải qua phân và 4,3% xuất hiện trong nước tiểu, trong đó hợp chất afatinib nguyên bản chiếm 88% lượng tìm thấy. Thời gian bán thải biểu kiến ở pha cuối kéo dài khoảng 37 giờ. Khi dùng nhiều liều liên tục, nồng độ afatinib trong huyết tương sẽ đạt trạng thái ổn định sau 8 ngày, dẫn đến hiện tượng tích lũy làm tăng AUC gấp 2,77 lần và tăng Cmax gấp 2,11 lần. Phân tích dược động học quần thể ở nhóm dân số đặc biệt Dữ liệu dược động học quần thể được xây dựng dựa trên nghiên cứu ở 927 bệnh nhân ung thư (gồm 764 ca NSCLC) điều trị đơn trị liệu bằng GIOTRIF. Kết quả cho thấy không cần điều chỉnh liều dùng khởi đầu đối với các yếu tố được phân tích dưới đây: Tuổi tác: Không phát hiện ảnh hưởng rõ rệt nào của tuổi tác (khảo sát từ 28 đến 87 tuổi) tới các thông số dược động học của afatinib. Thể trọng: So với nhóm bệnh nhân có cân nặng trung bình 62 kg, nồng độ thuốc trong huyết tương (AUC,ss) tăng thêm 26% ở những người nặng 42 kg (mức bách phân vị 2,5 %) và giảm đi 2 % ở những người nặng 95 kg (mức bách phân vị 97,5 %). Giới tính: Nồng độ thuốc trong huyết tương theo thời gian (AUCr,s đã hiệu chỉnh theo thể trọng) ở bệnh nhân nữ cao hơn nam giới 15 %. Chủng tộc: Không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê về mặt dược động học giữa nhóm bệnh nhân da trắng và châu Á. Các dữ liệu hạn chế trên nhóm người Mỹ gốc thổ dân/Alaska bản xứ (6 bệnh nhân) và người da đen (9 bệnh nhân) trong tổng số 927 đối tượng cũng không cho thấy sự khác biệt rõ rệt nào. Suy giảm chức năng thận: Thận chỉ chịu trách nhiệm đào thải dưới 5% liều đơn afatinib. Khi so sánh nồng độ thuốc sau liều đơn 40 mg Giotrif giữa người suy thận và người khỏe mạnh, ghi nhận: Đối tượng suy thận trung bình (n=8, eGFR từ 30-59 mL/min/1,73m2 theo công thức MDRD) có Cmax đạt 101% và AUCoz đạt 122% so với nhóm đối chứng. Đối tượng suy thận nặng (n=8, eGFR từ 15-29 mL/min/1,73m2 theo công thức MDRD) có Cmax đạt 122% và AUCa-t đạt 150% so với nhóm đối chứng. Dựa trên các kết quả này, không cần thay đổi liều khởi đầu cho người suy thận nhẹ (eGFR 60-89 mL/phút/1,73m2), trung bình (eGFR 30-59 mL/phút/1,73m2) hoặc nặng (eGFR 15-29 mL/phút/1,73m2), tuy nhiên nhóm suy thận nặng cần được giám sát y khoa chặt chẽ. Hiện chưa có dữ liệu nghiên cứu dùng Giotrif cho bệnh nhân có eGFR dưới 15 mL/phút/1,73m2 hoặc người đang lọc máu. Nồng độ GIOTRIF trong cơ thể có xu hướng tăng lên khi độ thanh thải creatinin (CrCL) giảm xuống. Cụ thể, so với mức CrCL trung vị là 79 mL/phút, nồng độ afatinib (AUC,ss) ở bệnh nhân có CrCL 60 hoặc 30 mL/phút tăng tương ứng là 13% và 42%; ngược lại, ở bệnh nhân có CrCL 90 hoặc 120 mL/phút, nồng độ này giảm tương ứng là 6% và 20%. Suy giảm chức năng gan: Con đường thải trừ chính của afatinib là qua mật và phân. Sau khi uống liều đơn GIOTRIF 50 mg, nồng độ thuốc ở người suy gan nhẹ (Child Pugh A) hoặc trung bình (Child Pugh B) tương đương với người khỏe mạnh. Do đó, không cần điều chỉnh liều khởi đầu cho các đối tượng này. Dược động học của thuốc chưa được nghiên cứu trên bệnh nhân suy gan nặng (Child Pugh C). Các xét nghiệm chức năng gan bất thường ở người suy gan nhẹ đến trung bình không liên quan đến sự thay đổi đáng kể nồng độ afatinib. Các yếu tố nội tại khác: Điểm số ECOG, nồng độ lactat dehydrogenase, alkalin phospatase và protein toàn phần có ảnh hưởng đến nồng độ afatinib nhưng không mang ý nghĩa lâm sàng. Các thói quen như hút thuốc, uống rượu hoặc tình trạng di căn gan không gây tác động đáng kể đến dược động học của thuốc. Tương tác dược động học Chất vận chuyển thuốc: Tác động của chất ức chế P-gp và BCRP đến afatinib: Thử nghiệm in vitro cho thấy afatinib là cơ chất của P-gp và BCRP. Khi dùng ritonavir (chất ức chế mạnh P-gp và BCRP với liều 200 mg x 2 lần/ngày trong 3 ngày) trước khi uống liều đơn 20 mg Giotrif 1 giờ, AUC của afatinib tăng 48% và Cmax tăng 39%. Nếu dùng ritonavir đồng thời hoặc trễ hơn 6 giờ sau khi uống 40 mg Giotrif, sinh khả dụng tương đối của afatinib lần lượt đạt 119% (AUC), 104% (Cmax) và 111% (AUC), 105% (Cmax). Vì vậy, nên uống các chất ức chế P-gp mạnh (như ritonavir, cyclosporine A, ketoconazole, itraconazole, erythromycin, verapamil, quinidine, tacrolimus, nelfinavir, saquinavir, amiodarone) cách biệt khoảng 6 đến 12 giờ so với thời điểm uống Giotrif. Tác động của chất cảm ứng P-gp đến afatinib: Sử dụng rifampicin (chất cảm ứng mạnh P-gp với liều 600 mg/ngày trong 7 ngày) trước đó làm giảm AUC của afatinib đi 34% và giảm Cmax đi 22% sau khi dùng liều đơn GIOTRIF 40 mg. Các chất cảm ứng P-gp mạnh khác (như carbamazepine, phenytoin, phenobarbital hoặc thảo dược St. John’s) cũng có thể làm giảm nồng độ afatinib trong máu. Tác động của afatinib đến cơ chất P-gp: Dù dữ liệu in vitro xếp afatinib vào nhóm ức chế P-gp trung bình, các kết quả lâm sàng cho thấy việc điều trị bằng Giotrif không làm biến đổi nồng độ trong huyết tương của các cơ chất P-gp. Tương tác với BCRP: Afatinib vừa là cơ chất vừa là chất ức chế BCRP trên in vitro, do đó có khả năng làm tăng sinh khả dụng của các cơ chất BCRP dùng đường uống (như rosuvastatin và sulfasalazine). Hệ thống vận chuyển hấp thu khác: Khả năng xảy ra tương tác thuốc thông qua việc ức chế các chất vận chuyển OATP1B1, OATP1B3, OATP2B1, OAT1, OAT3, OCT1, OCT2 và OCT3 bởi afatinib là rất thấp. Các enzym chuyển hóa thuốc: Enzym cytochrome P450 (CYP): Tương tác thuốc liên quan đến việc kích thích hoặc ức chế enzym CYP bởi afatinib rất ít khi xảy ra. Ở người, quá trình chuyển hóa afatinib qua xúc tác enzym là không đáng kể, chỉ khoảng 2% liều dùng được chuyển hóa bởi FMO3, và quá trình N-demethyl hóa qua CYP3A4 diễn ra ở mức cực thấp khó định lượng. Bản thân afatinib không ức chế hay cảm ứng các enzym CYP, vì vậy GIOTRIF không gây ảnh hưởng đến sự chuyển hóa của các thuốc là cơ chất của CYP. UDP-glucuronosyltransferase 1A1 (UGT1A1): Khả năng xảy ra tương tác thuốc do afatinib ức chế UGT1A1 là rất thấp dựa trên dữ liệu in vitro. Độc tính Thử nghiệm liều đơn trên chuột cống và chuột nhắt cho thấy afatinib có độc tính cấp tính thấp. Trong các nghiên cứu liều lặp lại (26 tuần ở chuột cống và 52 tuần ở lợn con), các tác động độc tính chủ yếu xuất hiện ở da (viêm nang lông, teo biểu mô, biến đổi da ở chuột), đường tiêu hóa (tiêu chảy, teo biểu mô, ăn mòn dạ dày ở cả hai loài) và thận (hoại tử nhú thận ở chuột). Những tổn thương này xuất hiện ở các mức nồng độ thấp hơn, tương đương hoặc cao hơn nồng độ điều trị trên lâm sàng. Hiện tượng teo biểu mô do tác động dược lực học cũng được ghi nhận ở nhiều cơ quan của cả hai loài động vật thử nghiệm. Ảnh hưởng đến khả năng sinh sản Do cơ chế hoạt động đặc thù, GIOTRIF có nguy cơ gây hại cho thai nhi. Các nghiên cứu độc tính trên sự phát triển phôi-thai ở liều cao gây độc cho mẹ không ghi nhận tác dụng gây quái thai. Tuy nhiên, các biến đổi ở xương (như cốt hóa không hoàn toàn hoặc không cốt hóa ở chuột), sảy thai ở thỏ, giảm cân nặng thai nhi cùng các bất thường ở da và nội tạng đã được ghi nhận ở các mức liều gây độc cho con mẹ. Nồng độ phơi nhiễm toàn thân (AUC) trong các thử nghiệm này tương đương hoặc cao hơn một chút (2,2 lần ở chuột) hoặc thấp hơn (0,3 lần ở thỏ) so với nồng độ điều trị ở người. Khi cho chuột cống đang cho con bú uống afatinib đánh dấu phóng xạ vào ngày thứ 11, hoạt chất được phát hiện bài tiết vào sữa mẹ. Nồng độ thuốc trong sữa tại thời điểm 1 giờ và 6 giờ sau khi uống cao hơn nồng độ trong huyết tương lần lượt khoảng 80 và 150 lần. Nghiên cứu khả năng sinh sản trên chuột đực và chuột cái ở liều tối đa dung nạp không cho thấy ảnh hưởng bất lợi nào. Nồng độ phơi nhiễm toàn thân (AUC 0-24) đạt được ở chuột đực và chuột cái trong nghiên cứu này nằm trong khoảng hoặc thấp hơn so với bệnh nhân (tương ứng là 1,3 lần và 0,51 lần). Nghiên cứu sự phát triển trước và sau sinh ở chuột với liều tối đa dung nạp cũng không ghi nhận tác động tiêu cực đáng kể nào, ngoại trừ việc chuột con bị nhẹ cân và chậm tăng cân nhẹ, không ảnh hưởng đến các mốc phát triển, khả năng sinh dục hay hành vi. Nồng độ phơi nhiễm toàn thân tối đa (AUC 0-24) ở chuột cái trong nghiên cứu này thấp hơn ở người (0,23 lần). Hiện tượng nhạy cảm với ánh sáng Thử nghiệm in vitro 3T3 xác nhận GIOTRIF có khả năng gây nhạy cảm với ánh sáng. Khả năng gây ung thư Chưa có nghiên cứu chính thức được thực hiện để đánh giá khả năng gây ung thư của GIOTRIF. Nghiệm pháp Ames ghi nhận phản hồi kém với afatinib ở duy nhất một dòng vi khuẩn thử nghiệm. Tuy nhiên, các thử nghiệm khác bao gồm đánh giá rối loạn nhiễm sắc thể in vitro ở nồng độ không độc tế bào, nghiệm pháp vi nhân tủy xương in vivo, nghiệm pháp Comet in vivo và khảo sát đột biến in vitro kéo dài 4 tuần trên chuột Muta đều không phát hiện khả năng gây đột biến hay độc tính gen của thuốc.
Thành phần
Thành phần của Thuốc Giotrif 20mg Boehringer Hàm lượng dược chất có trong mỗi 1 viên nén được nhà sản xuất quy định cụ thể như sau: Hoạt chất chính: Afatinib với hàm lượng tương đương 20 mg (dưới dạng muối dimaleat).
Cách dùng
Cách dùng Thuốc Giotrif 20mg Hướng dẫn cách sử dụng Người bệnh cần nuốt nguyên viên thuốc cùng với nước lọc. Hướng dẫn cách sử dụng Trong trường hợp gặp khó khăn khi nuốt nguyên viên, người bệnh có thể hòa tan viên GIOTRIF vào cốc chứa khoảng 100 mL nước uống không có ga (không dùng bất kỳ loại nước nào khác). Thả trực tiếp viên thuốc vào nước mà không được nghiền nát, thỉnh thoảng khuấy đều trong vòng 15 phút để thuốc rã ra thành các hạt siêu nhỏ rồi uống ngay lập tức. Sau đó, đổ thêm 100 mL nước vào cốc để tráng lại và uống hết. Hỗn hợp hòa tan này cũng tương thích để truyền qua ống thông dạ dày. Liều dùng phù hợp Điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC): Liều lượng GIOTRIF được khuyến nghị cho bệnh nhân chưa từng tiếp xúc với thuốc ức chế EGFR Tyrosine Kinase (chưa từng dùng EGFR TKI) hoặc dùng trong liệu trình bước một là 40 mg, uống mỗi ngày một lần. Tránh uống GIOTRIF cùng thời điểm với thức ăn. Cần đảm bảo dạ dày trống bằng cách không ăn tối thiểu 3 giờ trước khi uống và ít nhất 1 giờ sau khi đã dùng thuốc. Nên nuốt cả viên thuốc cùng nước. Quá trình điều trị bằng GIOTRIF cần được duy trì liên tục cho tới khi phát hiện bệnh tiến triển xấu đi hoặc cơ thể người bệnh xuất hiện các phản ứng không thể dung nạp. Tăng liều: Đối với những bệnh nhân chưa từng dùng EGFR TKI và đáp ứng tốt với liều 40 mg mỗi ngày trong 3 tuần đầu (biểu hiện qua việc không gặp các phản ứng phụ liên quan đến thuốc như tiêu chảy, phát ban, viêm miệng hay các biến cố khác vượt quá Mức độ 1 theo thang CTCAE), bác sĩ có thể xem xét nâng liều lên mức tối đa là 50 mg mỗi ngày. Tuyệt đối không nâng liều cho những trường hợp trước đó đã phải thực hiện giảm liều. Giới hạn liều lượng tối đa cho phép trong mọi trường hợp là 50 mg mỗi ngày. Điều chỉnh liều do phản ứng bất lợi: Khi xuất hiện các tác dụng phụ có triệu chứng do thuốc gây ra (chẳng hạn như tình trạng tiêu chảy kéo dài/nghiêm trọng hoặc các phản ứng bất lợi trên da), việc tạm dừng điều trị và hạ liều GIOTRIF theo hướng dẫn ở Bảng 1 là phương án xử trí hiệu quả (tham khảo thêm phần "Tác dụng phụ" và các lưu ý đặc biệt tại mục "Cảnh báo và thận trọng đặc biệt"). Bảng 1: Thông tin về điều chỉnh liều do phản ứng bất lợi: Biến cố ngoại ý do thuốc theo CTCAE a Liều GIOTRIF khuyến cáo Mức độ 1 hoặc Mức độ 2 Không ngừng thuốc b Không điều chỉnh liều Mức độ 2 (kéo dàic hoặc không thể dung nạp) hoặc Mức độ >= 3 Không ngừng thuốc b Ngừng thuốc cho đến khi về Mức độ 0/1 b Tiếp tục điều trị nhưng giảm liều bớt 10 mg d a Danh pháp chuẩn hóa theo Tiêu chí đánh giá biến cố ngoại ý của Viện Ung Thư Quốc gia (NCI) phiên bản 3.0. b Khi bị tiêu chảy, cần sử dụng ngay các nhóm thuốc cầm tiêu chảy (như loperamid) và duy trì cho đến khi không còn phân lỏng. c Tình trạng tiêu chảy kéo dài trên 48 giờ và/hoặc phát ban xuất hiện trên 7 ngày. d Cần xem xét ngừng sử dụng GIOTRIF vĩnh viễn nếu cơ thể người bệnh không dung nạp được mức liều 20 mg mỗi ngày. Nếu người bệnh xuất hiện mới hoặc chuyển biến xấu các triệu chứng ở đường hô hấp cấp tính, cần nghi ngờ nguy cơ mắc bệnh phổi mô kẽ (ILD) và chủ động tạm dừng GIOTRIF để tiến hành chẩn đoán. Khi đã xác định chính xác bệnh nhân bị ILD, phải ngưng dùng GIOTRIF hoàn toàn và áp dụng các biện pháp can thiệp y tế phù hợp (tham khảo "Cảnh báo và thận trọng đặc biệt"). Bệnh nhân suy thận: Sự gia tăng nồng độ Afatinib đã được ghi nhận ở nhóm đối tượng bị suy giảm chức năng thận mức độ trung bình cho đến nặng (chi tiết tại mục Dược động học). Việc điều chỉnh liều khởi đầu là không cần thiết đối với người bệnh suy thận mức độ nhẹ (chỉ số eGFR từ 60-89 mL/phút/1,73m2), trung bình (chỉ số eGFR từ 30-59 mL/phút/1,73m2) hoặc nặng (chỉ số eGFR từ 15-29 mL/phút/1,73m2). Tuy nhiên, cần giám sát chặt chẽ những ca suy thận nặng (eGFR từ 15-29 mL/phút/1,73m2) để kịp thời giảm liều Giotrif nếu xuất hiện dấu hiệu không dung nạp. Chống chỉ định dùng Giotrif cho các trường hợp có chỉ số eGFR dưới 15 mL/phút/1,73m2 hoặc đang phải lọc máu. Bệnh nhân suy gan: Các chỉ số về diện tích dưới đường cong nồng độ-thời gian của Afatinib không ghi nhận biến động lớn ở những người bị suy giảm chức năng gan mức độ nhẹ (phân loại Child Pugh A) hoặc trung bình (phân loại Child Pugh B) (chi tiết tại mục "Dược động học"). Nhóm đối tượng này không cần thay đổi liều khởi đầu. Do chưa có dữ liệu nghiên cứu lâm sàng của GIOTRIF trên bệnh nhân suy gan nặng (phân loại Child Pugh C), nhà sản xuất khuyến cáo không dùng thuốc cho nhóm này. Tuổi, chủng tộc, giới tính: Các yếu tố về giới tính, độ tuổi hay chủng tộc không đòi hỏi phải thay đổi liều dùng của thuốc (chi tiết tại mục "Dược động học"). Trẻ em: Mức độ an toàn cũng như hiệu quả điều trị của GIOTRIF ở đối tượng trẻ em và trẻ vị thành niên chưa được xác định. Vì vậy, nhóm đối tượng này không được khuyến cáo sử dụng thuốc. Sử dụng chất ức chế P-glycoprotein (P-gp): Trong trường hợp bắt buộc phải phối hợp với các hoạt chất ức chế P-gp, cần phân bổ thời gian uống so le và cách xa thời điểm dùng Giotrif nhất có thể. Cụ thể, nên uống chất ức chế P-gp cách Giotrif khoảng 6 giờ (nếu dùng loại 2 lần/ngày) hoặc cách 12 giờ (nếu dùng loại 1 lần/ngày) (chi tiết tại mục Tương tác). Khi dùng quá liều phải làm sao? Triệu chứng: Trong các thử nghiệm lâm sàng giai đoạn I, mức liều GIOTRIF cao nhất từng được thử nghiệm trên một nhóm nhỏ bệnh nhân là 160 mg/lần/ngày trong vòng 3 ngày và 100 mg/lần/ngày kéo dài trong 2 tuần. Các biểu hiện quá liều ghi nhận được chủ yếu tập trung ở da (như nổi mụn trứng cá, phát ban) và hệ tiêu hóa (điển hình là tiêu chảy). Trường hợp 2 nam thanh niên khỏe mạnh uống nhầm 360 mg GIOTRIF (nằm trong một hỗn hợp thuốc tự chế) đã gặp phải các phản ứng độc tính gồm: nôn mửa, buồn nôn, cơ thể suy nhược, đau đầu, chóng mặt, đau bụng kèm theo chỉ số amylase tăng nhẹ (dưới 1,5 lần so với giới hạn bình thường trên). Cả hai trường hợp sau đó đều đã bình phục hoàn toàn. Điều trị: Hiện tại chưa có hoạt chất giải độc đặc hiệu cho tình trạng quá liều GIOTRIF. Khi có nghi ngờ quá liều, cần lập tức dừng thuốc và tiến hành các biện pháp điều trị triệu chứng, nâng đỡ thể trạng. Nếu cần thiết, có thể áp dụng phương pháp rửa dạ dày hoặc kích thích nôn để loại bỏ lượng Afatinib chưa kịp hấp thu vào tuần hoàn. Khi quên 1 liều cần làm gì? Nếu phát hiện quên một liều GIOTRIF, người bệnh cần bổ sung ngay trong ngày hôm đó. Tuy nhiên, nếu thời gian đến liều uống tiếp theo theo lịch trình còn dưới 8 giờ, hãy bỏ qua liều đã quên và tiếp tục uống liều mới đúng giờ.
Lưu ý và cảnh báo
Những điều cần lưu ý khi sử dụng Người bệnh cần đọc kỹ hướng dẫn sử dụng và tham khảo các thông tin chi tiết dưới đây trước khi bắt đầu dùng thuốc. Trường hợp không nên sử dụng Không sử dụng GIOTRIF cho những người có tiền sử quá mẫn với hoạt chất Afatinib hoặc bất kỳ thành phần tá dược nào của thuốc. Cảnh báo và thận trọng Đánh giá tình trạng đột biến EGFR Để ngăn ngừa sai lệch kết quả (âm tính giả hoặc dương tính giả), việc xác định trạng thái đột biến EGFR của người bệnh cần được thực hiện bằng các phương pháp xét nghiệm có độ chính xác cao và đã qua kiểm định nghiêm ngặt. Tiêu chảy Tình trạng tiêu chảy (gồm cả thể nặng) đã được ghi nhận trong quá trình điều trị bằng GIOTRIF. Biến chứng này có thể gây mất nước nghiêm trọng, đi kèm hoặc không đi kèm suy thận, và một số ít trường hợp đã dẫn đến tử vong. Triệu chứng tiêu chảy thường khởi phát trong 2 tuần đầu, và tiêu chảy mức độ 3 thường xuất hiện trong 6 tuần đầu của liệu trình. Việc can thiệp sớm trong 6 tuần đầu bằng cách bù nước và dùng thuốc cầm tiêu chảy ngay khi xuất hiện dấu hiệu đầu tiên là rất quan trọng. Nên chuẩn bị sẵn thuốc chống tiêu chảy (như loperamid) để người bệnh sử dụng ngay khi phân lỏng, có thể tăng tới liều tối đa được phép và duy trì liên tục cho đến khi hết phân lỏng đủ 12 giờ. Đối với ca bệnh nặng, bác sĩ có thể yêu cầu tạm dừng thuốc, giảm liều hoặc ngừng điều trị GIOTRIF vĩnh viễn. Trường hợp mất nước nặng cần được can thiệp truyền dịch và điện giải qua đường tĩnh mạch. Biến cố ngoại ý trên da Phản ứng phát ban hoặc mụn trứng cá thường gặp ở người dùng GIOTRIF. Biểu hiện phổ biến là ban đỏ hoặc ban dạng mụn trứng cá từ nhẹ đến trung bình, có xu hướng xuất hiện hoặc trầm trọng hơn ở vùng da tiếp xúc với ánh nắng. Người bệnh nên bảo vệ da bằng quần áo dài tay và kem chống nắng khi ra ngoài. Việc dùng sớm các biện pháp hỗ trợ như kem dưỡng ẩm hay kháng sinh sẽ giúp duy trì liệu trình điều trị liên tục. Nếu phản ứng da kéo dài hoặc nghiêm trọng, cần tạm ngừng thuốc, giảm liều, bổ sung thuốc điều trị triệu chứng hoặc chuyển khám chuyên khoa da liễu. Với các biểu hiện nặng như da phồng rộp, bóng nước, tróc vảy (gợi ý hội chứng Stevens-Johnson hoặc hoại tử thượng bì nhiễm độc), phải tạm dừng hoặc ngừng sử dụng GIOTRIF vĩnh viễn. Bệnh nhân nữ, nhẹ cân và có sẵn suy thận Nồng độ Afatinib trong máu có xu hướng tăng cao ở nhóm bệnh nhân là nữ giới, người có thể trọng thấp hoặc người đã bị suy thận trước đó. Trạng thái này làm tăng nguy cơ gặp các phản ứng phụ do ức chế EGFR như tiêu chảy, viêm miệng và phát ban/mụn trứng cá. Nhóm đối tượng này cần được giám sát y khoa chặt chẽ. Bệnh phổi mô kẽ (ILD) Bệnh phổi mô kẽ hoặc các biểu hiện tương tự (như viêm phổi, thâm nhiễm phổi, viêm phế nang dị ứng, hội chứng suy hô hấp cấp), bao gồm cả ca tử vong, đã được báo cáo ở người điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) bằng GIOTRIF. Tỷ lệ gặp biến cố giống ILD liên quan đến thuốc là 0,7% trên tổng số hơn 3800 bệnh nhân. Các biến cố dạng ILD từ Mức độ ≥ 3 trở lên (không phân biệt nguyên nhân) chiếm tỷ lệ 1% . Thuốc chưa được thử nghiệm trên người có tiền sử ILD. Khi người bệnh xuất hiện các triệu chứng hô hấp cấp tính hoặc tiến triển xấu không rõ nguyên nhân (ho, khó thở, sốt), cần thăm khám kỹ để loại trừ ILD và tạm dừng GIOTRIF trong thời gian chẩn đoán. Nếu xác định mắc ILD, phải ngừng dùng GIOTRIF vĩnh viễn và tiến hành điều trị nâng đỡ phù hợp. Suy gan nặng Dưới 1% bệnh nhân gặp tình trạng suy gan (gồm cả tử vong) khi dùng GIOTRIF, thường xảy ra trên nền bệnh gan sẵn có, các bệnh lý đồng mắc hoặc do ung thư tiến triển. Cần xét nghiệm chức năng gan định kỳ cho người có tiền sử bệnh gan. Nếu chức năng gan suy giảm, có thể phải tạm ngưng thuốc. Trường hợp xảy ra suy gan nghiêm trọng, bắt buộc phải ngừng điều trị bằng GIOTRIF vĩnh viễn. Viêm giác mạc Người bệnh cần đến cơ sở nhãn khoa ngay lập tức nếu có các biểu hiện cấp tính hoặc chuyển biến xấu ở mắt như đau, đỏ, chảy nước mắt, nhìn mờ, nhạy cảm ánh sáng. Nếu phát hiện viêm loét giác mạc, phải tạm dừng hoặc ngừng hẳn GIOTRIF. Trường hợp viêm giác mạc thông thường cần cân nhắc kỹ giữa lợi ích điều trị và nguy cơ. Cần thận trọng khi chỉ định thuốc cho người có tiền sử khô mắt nặng, viêm hoặc loét giác mạc, hoặc người sử dụng kính áp tròng. Chức năng thất trái Sự ức chế HER2 có liên quan đến nguy cơ rối loạn chức năng thất trái. Dù dữ liệu lâm sàng chưa cho thấy GIOTRIF ảnh hưởng xấu đến sức co bóp cơ tim, thuốc vẫn chưa được nghiên cứu trên nhóm bệnh nhân có phân suất tống máu thất trái (LVEF) bất thường hoặc mắc bệnh tim nặng. Đối với người có nguy cơ tim mạch hoặc mắc bệnh ảnh hưởng đến LVEF, cần đánh giá LVEF trước và trong suốt quá trình dùng thuốc. Nếu xuất hiện triệu chứng tim mạch khi đang điều trị, cần kiểm tra chức năng tim và đo LVEF. Trường hợp LVEF giảm xuống dưới mức bình thường, người bệnh cần khám chuyên khoa tim mạch và cân nhắc tạm dừng hoặc ngừng hẳn GIOTRIF. Tương tác với thuốc ức chế P-glycoprotein (P-gp) Nồng độ Afatinib trong cơ thể có thể tăng lên nếu dùng các chất ức chế mạnh P-gp trước khi uống GIOTRIF. Do đó, cần thận trọng và nên uống các chất ức chế P-gp cùng lúc hoặc sau khi dùng GIOTRIF. Ngược lại, các chất cảm ứng mạnh P-gp dùng đồng thời có thể làm giảm nồng độ Afatinib . Kết hợp với vinorelbin trong ung thư vú di căn với HER2 dương tính Kết quả phân tích giữa kỳ của thử nghiệm Pha III trên bệnh nhân ung thư vú di căn HER2 dương tính cho thấy, việc phối hợp GIOTRIF với vinorelbin làm tăng tỷ lệ tử vong (do nhiễm trùng và tiến triển u) cũng như tăng các phản ứng phụ (tiêu chảy, phát ban) so với phác đồ trastuzumab kết hợp vinorelbin. Vì vậy, chống chỉ định phối hợp GIOTRIF với vinorelbin cho nhóm đối tượng này. Lactose Do GIOTRIF có chứa tá dược lactose, những người mắc các rối loạn di truyền hiếm gặp như kém hấp thu glucose-galactose, thiếu hụt Lapp lactase hoặc không dung nạp galactose không được sử dụng thuốc này. Ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc Chưa có các nghiên cứu lâm sàng đánh giá về ảnh hưởng này. Sử dụng thuốc cho phụ nữ trong thời kỳ mang thai và cho con bú Thai kỳ Các thử nghiệm tiền lâm sàng với Afatinib không ghi nhận tác động gây quái thai ở mức liều không gây độc cho mẹ; các ảnh hưởng bất lợi chỉ xuất hiện khi dùng liều độc cao. Hiện chưa có dữ liệu sử dụng thuốc trên phụ nữ mang thai, do đó nguy cơ đối với con người vẫn chưa được xác định. Phụ nữ trong độ tuổi sinh sản cần tránh mang thai trong suốt thời gian điều trị bằng GIOTRIF, đồng thời áp dụng các biện pháp tránh thai hiệu quả trong khi dùng thuốc và kéo dài ít nhất 2 tuần sau liều cuối cùng. Nếu người bệnh mang thai trong quá trình điều trị hoặc phải dùng thuốc khi đang mang thai, cần được cảnh báo về các nguy cơ gây hại cho thai nhi. Cho con bú Dữ liệu thực nghiệm cho thấy Afatinib có khả năng bài tiết vào sữa mẹ và không thể loại trừ nguy cơ đối với trẻ bú mẹ. Người mẹ được khuyến cáo ngừng cho con bú trong thời gian điều trị bằng GIOTRIF. Khả năng sinh sản Chưa có nghiên cứu về tác động của thuốc đối với khả năng sinh sản ở người. Tuy nhiên, các dữ liệu độc tính trên động vật cho thấy liều cao có gây ảnh hưởng đến cơ quan sinh sản, vì vậy không loại trừ khả năng GIOTRIF gây tác động xấu đến khả năng sinh sản của người bệnh. Tương tác với thuốc khác Các tương tác với hệ thống vận chuyển thuốc Ảnh hưởng của các thuốc ức chế P-gp và các thuốc ức chế protein kháng ung thư vú (BCRP) đối với afatinib: Thử nghiệm in vitro cho thấy Afatinib là cơ chất của cả P-gp và BCRP. Khi dùng ritonavir (một chất ức chế mạnh P-gp và BCRP với liều 200 mg , 2 lần/ngày, trong 3 ngày) trước khi uống liều đơn Giotrif 20 mg khoảng 1 giờ, nồng độ Afatinib tăng 48% (tính theo AUC) và 39% (tính theo Cmax). Ngược lại, nếu uống ritonavir cùng lúc hoặc sau khi dùng Giotrif 40 mg khoảng 6 giờ, sinh khả dụng tương đối của Afatinib lần lượt đạt 119% (AUC), 104% (Cmax) và 111% (AUC), 105% (Cmax). Do đó, khuyến cáo nên uống các chất ức chế mạnh P-gp (như ritonavir, erythromycin, ketoconazole, itraconazole, cyclosporine A, verapamil, quinidine, tacrolimus, nelfinavir, saquinavir, amiodarone) cách quãng với Giotrif từ 6 đến 12 giờ. Ảnh hưởng của các thuốc cảm ứng P-gp đối với afatinib: Việc sử dụng chất kích thích mạnh P-gp là rifampicin (liều 600 mg , 1 lần/ngày, trong 7 ngày) trước đó đã làm giảm nồng độ của Afatinib đi 34% (AUC) và 22% (Cmax) sau khi dùng một liều duy nhất GIOTRIF 40 mg . Các chất cảm ứng mạnh P-gp khác (như carbamazepine, phenytoin, phenobarbital hoặc thảo dược St. John’s) cũng có thể làm sụt giảm nồng độ Afatinib trong máu. Ảnh hưởng của afatinib đối với cơ chất của P-gp: Mặc dù dữ liệu in vitro định danh Afatinib là chất ức chế P-gp ở mức độ trung bình, các kết quả lâm sàng cho thấy việc điều trị bằng Giotrif không làm thay đổi nồng độ trong huyết tương của các thuốc là cơ chất của P-gp. Tương tác với BCRP Nghiên cứu in vitro cho thấy Afatinib vừa là cơ chất vừa là chất ức chế chất vận chuyển BCRP. Do đó, thuốc có khả năng làm tăng sinh khả dụng của các thuốc là cơ chất của BCRP dùng đường uống (như rosuvastatin và sulfasalazine). Ảnh hưởng của thức ăn đến afatinib Việc dùng GIOTRIF cùng với thức ăn nhiều chất béo làm giảm mạnh sinh khả dụng của thuốc, cụ thể Cmax giảm khoảng 50% và AUC0 giảm khoảng 39% . Vì vậy, người bệnh không được uống GIOTRIF cùng với thức ăn.
Mô tả chi tiết
Thuốc Giotrif 20mg Boehringer là gì? Dược phẩm Giotrif 20mg do công ty Boehringer Ingelheim Pharma GmbH & Co. KG nghiên cứu và sản xuất. Hoạt chất chính cấu tạo nên loại thuốc này là Afatinib (tồn tại dưới dạng Afatinib dimaleat). Chỉ định điều trị Đối tượng người trưởng thành mắc bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ ở giai đoạn tiến xa tại chỗ hoặc đã di căn được chỉ định sử dụng thuốc này. Điều kiện áp dụng là tế bào ung thư của bệnh nhân phải mang đột biến thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR), đồng thời người bệnh chưa từng trải qua liệu trình điều trị nào trước đó bằng các nhóm thuốc ức chế EGFR tyrosine kinase.
Dữ liệu được ghi nhận vào 2026-08-28T04:04:51.422Z. Dược Hub cung cấp thông tin tham khảo, không bán thuốc trực tuyến và không thay thế tư vấn của bác sĩ hoặc dược sĩ. Giá thuốc và tồn kho không được công bố tại URL này.