← Danh mục thuốc

Thông tin sản phẩm tham khảo

Xerdoxo 15mg KRKA (Hộp 3 vỉ x 10 viên)

Xerdoxo 15mg KRKA là gì? Xerdoxo 15mg KRKA là thuốc chống đông đường uống chứa rivaroxaban 15mg, phòng ngừa và điều trị huyết khối, do Krka, d.d., Novo Mesto (Slovenia) sản xuất.

Thương hiệu
KRKA,D,D
Phân loại
Thuốc kê đơn
Quy cách/đơn vị
Hộp
Nhà sản xuất
KRKA,D,D

Công dụng / chỉ định

Công dụng của Xerdoxo 15mg KRKA Chỉ định Thuốc Xerdoxo 15mg được chỉ định cho người lớn trong: Phòng ngừa biến cố huyết khối hệ thống ở bệnh nhân rung nhĩ không do van tim nếu có các yếu tố nguy cơ sau: Suy tim Tăng huyết áp Tuổi ≥ 75 Đái tháo đường Tiền sử đột quỵ Cơn thiếu máu não thoáng qua Điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT), thuyên tắc phổi (PE) và phòng ngừa tái phát các bệnh này. Dược lực học Nhóm dược lý: Thuốc chống huyết khối, chất ức chế trực tiếp yếu tố Xa. Mã ATC: B01AF01 Tác dụng của rivaroxaban trên yếu tố Xa phụ thuộc liều. Khi đánh giá bằng Neoplastin, PT tăng và có tương quan gần tuyến tính với nồng độ thuốc trong huyết tương (r = 0,98). INR không có giá trị đối với rivaroxaban. Trong nghiên cứu trên 22 đối tượng khỏe mạnh, PCC 3 yếu tố và PCC 4 yếu tố (liều 50 IU/kg) được sử dụng để đánh giá đảo ngược tác dụng. PCC 3 giảm PT trung bình 1 giây trong 30 phút. PCC 4 giảm khoảng 3,5 giây. Tuy nhiên, PCC 3 cho thấy hiệu quả nổi bật hơn về phục hồi tạo thrombin nội sinh. Ở bệnh nhân DVT và PE, PT (Neoplastin) ở đỉnh tác dụng (2-4 giờ sau uống) là 17-32 giây với 15 mg x 2 lần/ngày và 15-30 giây với 20 mg/ngày. Ở rung nhĩ không do van tim, PT 1-4 giờ sau uống là 14-40 giây (20 mg/ngày) và 10-50 giây ở bệnh nhân suy thận trung bình dùng 15 mg/ngày. aPTT và HepTest tăng theo liều nhưng không được khuyến cáo để đánh giá dược lực học. Theo dõi đông máu thường quy không cần thiết nhưng vẫn có thể đo nồng độ kháng Xa khi có chỉ định lâm sàng. Dược động học - Hấp thu Hấp thu nhanh, Cmax đạt sau 2-4 giờ uống. Dược động học tuyến tính theo liều đối với 10 mg, 15 mg, 20 mg trong trạng thái no. Dạng nghiền 20 mg dùng đường uống hoặc qua ống thông dạ dày có Sinh khả dụng tương đương viên nguyên - Phân bố Tỷ lệ liên kết với protein huyết tương 92-95% chủ yếu với Albumin. Vd khoảng 50 L. - Chuyển hóa 2/3 liều được chuyển hóa, liên quan CYP3A4, CYP2J2 và cơ chế không phụ thuộc CYP. Là cơ chất của P-gp và BCRP. - Thải trừ Thải trừ qua thận và phân. Độ thanh thải toàn phần khoảng 10 L/giờ Thời gian bán thải 5-9 giờ ở người trẻ và 11-13 giờ ở người cao tuổi

Thành phần

Thành phần của Xerdoxo 15mg KRKA Rivaroxaban 15mg.

Cách dùng

Cách dùng của Xerdoxo 15mg KRKA Cách dùng Xerdoxo dùng đường uống. Thuốc nên được uống cùng với thức ăn (xem mục Đặc tính dược động học). Đối với những bệnh nhân không thể nuốt nguyên viên thuốc, thi có thể nghiền viên thuốc và trộn với nước hoặc thức ăn mềm như nước táo ngay trước khi dùng và được dùng qua đường uống. Sau khi uống viên Xerdoxo 15mg hoặc 20mg được nghiền ra, nên tiếp ngay sau với thức ăn. Viên thuốc nghiền ra có thể được cho qua ống thông dạ dảy sau khi chắc chắn việc đặt ống thông đúng. Viên thuốc nghiền ra phải được cho vào một lượng nước nhỏ đỗ qua ổng thông dạ dày, sau đó được đổ thêm nước. Sau khi uống viên Xerdoxo 15mg hoặc 20mg được nghiền ra, thì nên tiếp ngay sau với thức ăn qua đường ruột (xem mục Đặc tính được động học). Liều dùng Dự phòng đột quy và thuyên tắc mạch toàn thân ở bệnh nhân rung nhĩ (SPAF) Liều khuyến cáo là 20mg ngày một lần, đó cũng là liều tối đa được khuyến cáo. Việc điều trị với rivaroxaban nên được tiếp tục trong thời gian dài với điều kiện lợi ích về dự phòng đột quy và thuyên tắc mạch toàn thân là vượt trội so với nguy cơ xuất huyết (xem mục Cảnh bảo và thận trọng khi dùng thuốc). Nếu bệnh nhân quên uống một liều thuốc thì nên uống rivaroxaban ngay khi nhớ ra và tiếp tục uống ngày 1 lần theo liều khuyến cáo vào ngày tiếp theo. Không nên dùng liều gấp đôi trong cùng một ngày để bù cho liều thuốc đã quên không uống. Điều trị và dự phòng tái phát DVT và PE Liều khuyến cáo cho việc bắt đầu điều trị DVT hoặc PE là 15mg hai lần mỗi ngày trong 3 tuần đầu tiên, tiếp theo sau là 20mg một lần mỗi ngày để tiếp tục điều trị và dự phòng tái phát DVT và PE. Thời gian điều trị ngắn (it nhất 3 tháng) nên được xem xét ở những bệnh nhân bị DVT hoặc PE có nguyên nhân bởi các yếu tố nguy cơ lớn thoáng qua (vi dụ: đại phầu hoặc chấn thương nặng gần đây). Thời gian điều trị dài hơn nên được xem xét ở những bệnh nhân bị DVT hoặc PE có nguyên nhân không liên quan đến các yếu tố nguy cơ thoáng qua, DVT hoặc PE không rõ nguyên nhân, hoặc tiền sử DVT hoặc PE tái phát. Khi dự phòng kéo dài DVT và PE tái phát được chỉ định (sau khi hoàn thành ít nhất 6 tháng điều trị DVT hoặc PE), liều khuyến cáo là 10mg mỗi ngày một lần. Ở những bệnh nhân có nguy cơ tái phát DVT hoặc PE, chẳng hạn như những người có nhiều bệnh mắc kèm phức tạp hoặc những người đang được điều trị với rivaroxaban 10mg một lần mỗi ngày mà vẫn tái phát DVT hoặc PE, nên cân nhắc sử dụng liều rivaroxaban 20mg một lần mỗi ngày. Thời gian điều trị và việc lựa chọn liều nên được đánh giá cần thận về lợi ích điều trị so với nguy cơ xuất huyết tùy từng cá nhân (xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc). Xử trí khi quá liều Khi sử dụng quá liều thuốc Xerdoxo 15mg hãy đưa bệnh nhân đến ngay cơ sở y tế để được hỗ trợ.

Lưu ý và cảnh báo

Những điều cần lưu ý khi sử dụng Tương tác, tương kỵ của thuốc Mức độ tương tác ở trẻ em không được biết đến. Dữ liệu tương tác được để cập dưới đây được thu thập ở người lớn và các cảnh bảo trong mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc nên được tính đến đối với trẻ em. Chất ức chế CYP3A4 và P-gp Dùng đồng thời rivaroxaban với ketoconazole (400mg một lần/ngày) hoặc ritonavir (600mg hai lần/ngày) dẫn đến AUC trung bình của rivaroxaban ở trạng thái ổn dịnh tăng 2,6 lần/2,5 lần và Cmax trung binh rivaroxaban tăng gấp 1,7 lần/1,6 lần cùng với sự tăng không đáng kể tác dụng dược lực học có thể dẫn dến tăng nguy cơ xuất huyết. Vi vậy, không khuyến cáo sử dụng rivaroxaban đồng thời với các thuốc kháng nấm nhóm azole dùng đường toàn thân như ketoconazole, itraconazole, voriconazole và posaconazole hoặc các thuốc ức chế protease HIV. Các hoạt chất này là chất ức chế CYP3A4 và P-gp mạnh (xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc). Các hoạt chất chỉ ức chế mạnh một trong các con đường thải trừ của rivaroxaban, hoặc là CYP3A4 hoặc P-gp, được cho là sẽ làm tăng nồng độ rivaroxaban trong huyết tương ở mức độ thấp hơn. Ví dụ, clarithromyein (500mg 2 lần/ngày), được xem là một chất ức chế CYP3A4 mạnh và ức chế P-gp trung bình, khi sử dụng đồng thời dẫn đến AUC trung bình của rivaroxaban tăng gấp 1,5 lần và Cmax tăng gấp 1,4 lần. Sự tăng lên gần với tầm biến thiên bình thường của AUC và Cmax được coi là không liên quan về mặt lâm sàng. (Đối với bệnh nhân suy thận: xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc). Erythromycin (500mg 3 lần/ngày), ức chế CYP3A4 và P-gp ở mức vừa phải, khi sử dụng đồng thời dẫn đến AUC và Cmax trung bình của rivaroxaban tăng gấp 1,3 lần. Sự tăng lên này nắm trong tầm biến thiên bình thường của AUC và Cmax và được coi là không có ý nghĩa trên lâm sàng Ở những bệnh nhân bị suy thận nhẹ, erythromycin (500mg, 3 lần/ngày) làm tăng AUC trung bình của rivaroxaban lên 1,8 lần và Cmax tăng 1,6 lần khi so với những đối tượng có chức năng thận bình thường không dùng erythromycin đồng thời . Ở những bệnh nhân có suy thận mức độ trung bình, erythromycin làm tăng AUC trung bình của rivaroxaban gấp 2,0 lần và C max tăng 1,6 lần số với những đối tượng có chức năng thận bình thường không dùng erythromyein đồng thời. Tác dụng của erythromycin cộng với tác dụng của suy thận (xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc). Fluconazole (400mg 1 lần/ngày), dược xem là thuốct ức chế CYP3A4 vừa phải, dẫn đến tăng AUC trung bình của rivaroxaban lên 1,4 lần và tăng Cmax trung bình 1,3 lần. Sự tăng này vẫn trong giới hạn biến thiên bình thường của AUC và Cmax và được xem là không liên quan về mặt lâm sàng (Đối với bệnh nhân suy thận: xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc). Với dữ liệu lâm sàng hạn chế có sẵn với dronedarone, nên tránh sử dụng đồng thời với rivaroxaban. Các thuốc chống đông Sau khi sử dụng phối hợp enoxaparin (40mg dơn liều) và rivaroxaban (10mg đơn liều), ghi nhận có tác dụng cộng thêm trên hoạt tính ức chế yếu tố Xa nhưng không có bất kỷ tác động cộng thêm test đông máu (PT, aPTT). Enoxaparin không tác động đến dược động học của rivaroxaban. Do nguy cơ xuất huyết gia tăng, nên cần chủ ý bệnh nhân nếu điều trị đồng thời với bất kỳ các thuốc chống đông khác (xem mục Chống chi định và Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc). NSAIDs/Các thuốc ức chế kết tập tiều cầu Sử dụng đồng thời rivaroxaban (15mg) và 500mg naproxen, không thấy có sự kéo dài liên quan đến thời gian xuất huyết về mặt lâm sàng. Tuy nhiên, đáp ứng dược lực học trên một số bệnh nhân có thể rõ rệt hơn. Chưa thấy có các tương tác dược động học và dược lực học đáng kể về mặt lâm sảng khi rivaroxaban được dùng đồng thời với 500mg acid acetylsalicylic. Clopidogrel (liều nạp 300mg, sau đó dùng liều duy trì 75mg) không thấy có tương tác dược động học với rivaroxaban (15mg) nhưng ở một nhóm nhỏ bệnh nhân ghi nhận được sự tăng liên quan đến thời gian xuất huyết, mà không có tương quan đến sự kết tập tiểu cầu, P-selectin hoặc nồng độ thụ thể GPIIb /Illa. Cần chú ý bệnh nhân nếu điều trị bệnh nhân đồng thời với NSAIDs (bao gồm acid acetylsalicylic) và thuốc ức chế kết tập tiểu cầu vì các thuốc này thường làm tăng nguy cơ xuất huyết một cách đặc trưng (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc). SSRIs/SNRIS Như các thuốc chống đông máu khác, có thể có khả năng bệnh nhân bị tăng nguy cơ xuất huyết trong trường hợp dùng đồng thời với SSRIs hoặc SNRIs theo như tác dụng được bảo cáo của các thuốc này trên tiều cầu. Khi được sử dụng đồng thời với rivaroxaban trong nghiên cứu lâm sàng trị liệu, tỷ lệ cao hơn các biến cố xuất huyết nghiêm trọng hoặc không nghiêm trọng liên quan đến lâm sàng đều gặp ở tất cả các nhóm điều trị. Warfarin Việc chuyển đổi cho bệnh nhân từ warfarin (INR 2,0 - 3,0) sang rivaroxaban (20mg) hoặc từ rivaroxaban (20mg) sang warfarin (INR 2,0 - 3,0) làm thời gian prothrombin/INR (Neoplastin) tăng thêm nhiều hơn mức cộng hợp (có thể quan sát giá trị INR tăng lên đến 12), trong khi tác dụng lên trên aPTT, hoạt tính ức chế yếu tổ Xa và thrombin nội sinh có khả năng cộng hợp. Nếu muốn kiểm tra tác dụng dược lực học của rivaroxaban trong giai đoạn chuyển đổi thuốc, có thể sử dụng các test về hoạt tính ức chế yếu tố Xa, PiCT và Hep test do những xét nghiệm này không bị tác động bởi warfarin. Từ ngày thứ 4 sau khi dừng warfarin trờ đi, tất cả các test (bao gồm PT, aPTT, ức chế hoạt tính yếu tố Xa và ETP) chỉ phản ánh tác dụng của rivaroxaban. Nếu muốn kiểm tra tác dụng dược lực học của warfarin trong giai đoạn chuyển đổi thuốc, có thể đo lường chỉ số INR ở thời điểm rivaroxaban đạt nồng độ đáy (24 giờ sau khi uống liều rivaroxaban trước) do ở thời điểm đó, rivaroxaban ánh hưởng đến xét nghiệm ở mức độ nhỏ nhất. Không ghi nhận tương tác dược động học giữa warfarin và rivaroxaban. Thuốc gây cảm ứng CYP3A4 Dùng đồng thời rivaroxaban với chất cảm ứng CYP3A4 mạnh như rifampicin dẫn đến AUC trung binh của rivaroxaban giảm khoảng 50%, song song với giảm tác dụng dược lực học của thuốc. Việc dùng đồng thời rivaroxaban với các chất cảm ứng CYP3A4 mạnh khác (vi dụ: phenytoin, carbamazepine, phenobarbital hoặc St. John's Wort (Hypericum perforatum)) có thế dẫn đến giảm nồng độ rivaroxaban trong huyết tương. Do đó, nên tránh sử dụng đồng thời các thuốc gây cảm ứng mạnh CYP3A4 trừ khi bệnh nhân được theo dõi chặt chẽ các dấu hiệu và triệu chứng của huyết khối. Các liệu pháp đồng thời khác Không quan sát thấy tương tác dược động học hoặc dược lực học có ý nghĩa lầm sàng khi sử dụng đồng thời rivaroxaban với midazolam (cơ chất của CYP3A4), digoxin (cơ chất của P-gp), atorvastatin (cơ chất của CYP3A4 và P-gp) hoặc omeprazole (chất ức chế bơm proton). Rivaroxaban không ức chế hay cảm ứng với bất kỳ đồng phân chính của CYP nào như CYP3A4. Không quan sát thấy tương tác lâm sàng với thức ăn (xem mục Cách dùng, liều dùng). Tương tác với các thông số xét nghiêm Các thông số xét nghiệm đông máu (vi dụ: PT, aPTT, HepTest) được cho là có ánh hưởng do phương thức tác dụng của rivaroxaban (xem mục Đặc tính dược lực học). Chống chỉ định Chồng chỉ dịnh rivaroxaban ở bệnh nhân mẫn cảm với rivaroxaban hoặc bất kỳ thành phần nào của thuốc (xem mục Đặc tỉnh dược lực học). Chống chỉ định rivaroxaban ở bệnh nhân đang xuất huyết liên quan lâm sàng (như xuất huyết nội sọ, xuất huyết tiêu hóa) (xem mục Cảnh báo và Thận trọng khi dùng thuốc). Chống chỉ định rivaroxaban ở bệnh nhân đang được điều trị với các thuốc chống đông khác (vi dụ heparin không phân đoạn (UFH), heparin trọng lượng phân từ thấp (enoxaparin, dalteparin,.... ), các đẫn xuất heparin (fondaparinux, ... ), các thuốc chống đông dạng uống (warfarin, dabigatran etexilate, apixaban, .... ) ngoại trừ các trường hợp cụ thể trong giai đoạn chuyển từ một thuốc chống đông này sang một thuốc chống đông khác (xem mục Cách dùng, Liều dùng) hoặc khi UFH được cho ở liều cần thiết để duy trì việc mở ổng thông dộng mạch hoặc tĩnh mạch trung tâm (xem mục Tương tác, tương kỵ của thuốc). Chống chi định rivaroxaban ở các bệnh nhân mắc bệnh gan đi kèm với rổi loạn đông máu và nguy cơ cháy máu có liên quan về mặt lâm sảng kể cả những bệnh nhân xơ gan với xếp loại Child Pugh B và C. Chống chỉ định rivaroxaban ở phụ nữ mang thai và trong thời gian nuôi con bằng sữa mẹ (xem mục Sử dụng thuốc ở phụ nữ có thai và cho con bú). Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc: Khuyến cáo theo dõi lâm sảng phù hợp với thực hành chống đông máu trong suốt thời gian điều trị. Nguy cơ xuất huyết Cũng giống như các thuốc chống đông khác, những bệnh nhân sử dụng rivaroxaban phải được quan sát cần thận với các dấu hiệu xuất huyết. Khuyến cáo nên sử dụng thận trọng trọng những chứng bệnh có gia tăng nguy cơ xuất huyết. Phải ngưng dùng rivaroxaban nếu có xuất huyết xày ra (xem phần Quá liều và cách xứ trí). Trong những nghiên cứu lâm sàng, những xuất huyết niêm mạc (như chy máu cam, lợi, tiêu hóa, tiết niệu sinh dục bao gồm bất thường ám đạo hoặc tăng chảy máu kinh) và thiếu máu thường được thấy nhiều hơn trong thời gian điều trị rivaroxaban lâu dài so với điều trị VKA. Vì vậy, ngoài theo dõi lâm sàng đầy đủ, thi các test xét nghiệm haemoglobin/hacmatocrit có thể có giá trị phát hiện xuất huyết bị che lấp và định lượng mức độ ánh hưởng trên lâm sàng khi xuất huyết rõ rằng, khi được xem là thích đáng. Vài phân nhóm bệnh nhân, như được trình bày chỉ tiết dưới đây, có nguy cơ xuất huyết gia tăng. Những bệnh nhân này phải được theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng của các biến chứng xuất huyết và thiếu máu một cách cấn thận sau khi bắt đầu điều trị (xem mục Tác dụng không mong muốn của thuốc). Bệnh nhân trẻ em Có đữ liệu hạn chế ở trẻ em bị huyết khối tĩnh mạch não và xoang bị nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương (xem phần Đặc tính dược lực học). Cần đảnh giá cẩn thận nguy cơ chảy máu trước và trong khi điều trị bằng rivaroxaban. Thuốc dùng đồng thời Không khuyến cáo sử dụng đồng thời rivaroxaban và thuốc chống nắm nhóm azole dùng đường toàn thân (như ketoconazole, itraconazole, voriconazole và posaconazole) hoặc thuốc ức chế protease HIV (vi du ritonavir). Những thuốc này là các chất ức chế mạnh cả CYP3A4 lẫn P-gp và do đó có thể làm tăng nồng độ rivaroxaban trong huyết tương đến mức độ có liên quan đến lâm sàng (trung bình gấp 2,6 lần) có thể dẫn đến tăng nguy cơ xuất huyết (xem mục Tương tác, tương kỵ của thuốc). Tuy nhiên, thuốc chống nấm nhóm azole như fluconazol là một chất ức chế CYP 3A4 ở mức độ trung bình, ít có ánh hưởng lên sự phơi nhiễm của rivaroxaban hơn và có thể được dùng đồng thời (xem mục Tương tác, tương kỵ của thuốc). Cần thận trọng khi điều trị đồng thời với các thuốc ảnh hướng đến cầm máu như thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs), acid acetylsalicylic (ASA) và thuốc ức chế kết tập tiều cầu hoặc thuốc ức chế tái thu hồi serotonin có chọn lọc (SSRIs) và thuốc ức chế tái thu hồi serotonin norepinephrine (SNRIs). Đối với những bệnh nhân có nguy cơ mắc bệnh loét đường tiêu hóa, có thể cân nhắc điều trị dự phòng thích hợp (xem mục Tương tác, tương ky của thuốc). Các yếu tố xuất huyết khác Tương tự như các thuốc chống huyết khổi khác, cần thận trọng khi sử dụng rivaroxaban ở các bệnh nhân có nguy cơ cao xuất huyết như: - Rối loạn đông máu bẩm sinh hoặc mắc phải. Tăng huyết áp động mạch nghiêm trọng không kiểm soát được. - Bệnh loét đường tiêu hóa đang tiền triển có khả năng dẫn đến biển chứng chày máu (ví dụ: bệnh viêm ruột, viêm thực quán, viêm dạ đảy và bệnh trào ngược dạ dày thực quản). - Bệnh lý võng mạc do mạch máu. - Giăn phế quản hoặc tiền sử xuất huyết phổi. Xuất huyết trong quá trình điều trị chống huyết khối có thể là biểu hiện của ung thư ác tính tiềm ẩn chưa được biết rõ, đặc biệt là ở đường tiêu hóa hoặc sinh dục. Bệnh nhân mắc ung thư ác tính có thể đồng thời có nguy cơ xuất huyết và huyết khối cao hơn. Cần cân nhắc lợi ích của việc điều trị chống huyết khối so với nguy cơ chảy máu ở bệnh nhân ung thư dựa vào vị trí khối u, liệu pháp điều trị ung thư mà bệnh nhân đang sử dụng và giai đoạn bệnh. Cần theo dõi bệnh nhân nếu bệnh nhân đang dùng đồng thời với các thuốc ảnh hưởng đến quả trình cầm máu - đông máu như các thuốc chống viêm không phải steroid (NSAID), thuốc ức chế kết tập tiểu cầu, các thuốc chống huyết khối khác hoặc các chất ức chế tái thu hồi serotinin chọn lọc (SSRI), chất ức chế tái thu hồi norepinephrine serotonin (SNRI), (xem mục Tương tác, tương kỵ của thuốc). Xem xét điều trị dự phòng xuất huyết trên bệnh nhân có nguy cơ loét đường tiêu hóa (xem mục Tương tác, tương kỵ của thuốc). Phái tim vị trí xuất huyết khi hemoglobin hoặc huyết áp giảm không giải thích được. Sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai và cho con bú Thời kỳ mang thai Độ an toàn và hiệu quá của rivaroxaban ở phụ nữ mang thai chưa được thiết lập. Các nghiên cứu trên động vật đã cho thấy độc tính sinh sản (xem mục Dữ liệu an toán tiền lâm sàng). Do độc tính sinh sản tiềm ẩn, nguy cơ xuất huyết nội sinh và bằng chứng là rivaroxaban qua được hàng rào nhau thai, chống chi định rivaroxaban ở phụ nữ có thai (xem mục Chống chỉ định). Phụ nữ có khả năng mang thai nên tránh mang thai trong khi điều trị bằng rivaroxaban. Thời kỳ cho con bú Độ an toàn và hiệu quá của rivaroxaban ở phụ nữ cho con bú chưa được thiết lập. Dữ liệu từ động vật cho thấy rivaroxaban được bài tiết vào sữa mẹ. Do đó, chống chỉ định dùng rivaroxaban trong thời gian cho con bú (xem mục Chống chi định). Cần phải quyết định ngưng cho con bú hoặc ngừng/không điều trị. Khả năng sinh sản Không có nghiên cứu cụ thể nào về rivaroxaban ở người được tiến hành để đánh giá tác động lên khả năng sinh sản. Trong một nghiên cứu về khả năng sinh sản của chuột đực và chuột cái, không thấy tác dụng nào (xem mục Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng). Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe và vận hành máy móc Rivaroxaban có ảnh hưởng nhỏ đến khả năng lái xe và vận hành máy móc. Các phản ứng có hại như ngất (tần suất: không thường gặp) và chóng mặt (tần suất: thường gặp) đã được báo cáo (xem mục Tác dụng không mong muốn của thuốc). Bệnh nhân gặp phải những phản ứng có hại này không nên lái xe hoặc sử dụng máy móc.

Mô tả chi tiết

Xerdoxo 15mg KRKA là gì? Xerdoxo 15mg KRKA là thuốc chống đông đường uống chứa rivaroxaban 15mg, phòng ngừa và điều trị huyết khối, do Krka, d.d., Novo Mesto (Slovenia) sản xuất.

Dữ liệu được ghi nhận vào 2026-08-28T04:04:51.422Z. Dược Hub cung cấp thông tin tham khảo, không bán thuốc trực tuyến và không thay thế tư vấn của bác sĩ hoặc dược sĩ. Giá thuốc và tồn kho không được công bố tại URL này.