Thuốc Clotannex 5/160mg DRP Inter điều trị tăng huyết áp vô căn (3 vỉ x 10 viên)
Thuốc Clotannex 5/160 mg là sản phẩm của Công ty TNHH DRP Inter, có thành phần chính là Amlodipine, Valsartan. Đây là thuốc được sử dụng để điều trị tăng huyết áp vô căn.
- Thương hiệu
- DRP
- Phân loại
- Thuốc kê đơn
- Số đăng ký
- 893110203923
- Quy cách/đơn vị
- Hộp
- Nhà sản xuất
- Công ty TNHH DRP Inter
Công dụng / chỉ định
Chỉ định Thuốc Clotannex 5/160 mg được chỉ định dùng trong các trường hợp sau: Điều trị tăng huyết áp vô căn. Clotannex được chỉ định cho người lớn có huyết áp không được kiểm soát đầy đủ với amlodipine hoặc valsartan đơn trị liệu. Dược lực học Nhóm dược lý: Thuốc đối kháng thụ thể angiotensin II (valsartan) kết hợp thuốc chẹn kênh calci dẫn xuất của dihydropyridin (amlodipine). Phân loại ATC: C09DB01 Clotannex kết hợp hai hoạt chất điều trị tăng huyết áp với cơ chế bổ trợ để kiểm soát huyết áp ở những bệnh nhân bị tăng huyết áp vô căn: Amlodipine thuộc nhóm chẹn kênh calci và valsartan thuộc nhóm đối kháng thụ thể angiotensin II. Sự kết hợp hai thành phần này có tác dụng bổ trợ cho tác dụng điều trị tăng huyết áp, làm giảm huyết áp với một mức độ mạnh hơn so với khi dùng mỗi thành phần đơn độc. Amlodipine: Amlodipine ngăn cản sự di chuyển của ion calci vào cơ tim và cơ trơn mạch máu, từ đó làm giãn trực tiếp cơ trơn mạch máu, gây giảm sức cản ngoại vi và giảm huyết áp. Sự giảm huyết áp này không kèm theo thay đổi đáng kể của nhịp tim hoặc nồng độ catecholamin trong huyết tương khi dùng thuốc trong thời gian dài. Nồng độ trong huyết tương có mối tương quan với tác dụng trên cả bệnh nhân trẻ và bệnh nhân cao tuổi. Ở bệnh nhân có chức năng thận bình thường, liều điều trị của amlodipine làm giảm sức cản của mạch máu thận dẫn tới tăng mức lọc cầu thận và lượng huyết tương qua thận hiệu quả mà không làm thay đổi về phân đoạn lọc hoặc protein niệu. Ở bệnh nhân có chức năng tâm thất bình thường được điều trị bằng amlodipine cho thấy sự tăng nhẹ về chỉ số tim mà không ảnh hưởng đáng kể trên dP/dt hoặc trên áp suất cuối kì tâm trương ở tâm thất trái hoặc trên thể tích máu. Trong các nghiên cứu về huyết động học, amlodipine không liên quan tới hiệu ứng co cơ âm tính khi được dùng ở mức liều điều trị cho động vật thí nghiệm và người bình thường, ngay cả khi dùng kết hợp với thuốc chẹn beta cho người. Amlodipine không làm thay đổi chức năng nút xoang nhĩ hoặc dẫn truyền nhĩ - thất ở động vật hoặc người bình thường. Trong các nghiên cứu lâm sàng trong đó amlodipine được dùng kết hợp với thuốc chẹn beta cho bệnh nhân tăng huyết áp hoặc đau thắt ngực, không quan sát thấy tác dụng phụ nào về các thông số trên điện tâm đồ. Valsartan: Valsartan là một chất đối kháng thụ thể angiotensin II mạnh, đặc hiệu, có hoạt tính dùng đường uống. Valsartan tác động chọn lọc lên thụ thể AT1, chịu trách nhiệm cho các tác động đã biết của angiotensin II. Việc tăng nồng độ angiotensin II trong huyết tương sau khi chẹn thụ thể AT, bằng valsartan có thể kích thích thụ thể không bị chẹn AT2, điều này có lẽ làm đối trọng cho tác động của thụ thể AT1. Valsartan không biểu hiện bất kỳ hoạt tính đồng vận nào tại thụ thể AT, và có ái lực đối với thụ thể AT, mạnh hơn nhiều (khoảng 20.000 lần) so với thụ thể AT2. Valsartan không ức chế men chuyển angiotensin (ACE), còn gọi là kinase II, nhằm chuyển angiotensin I thành angiotensin II và thoái biến bradykinin. Những thuốc đối vận angiotensin II không gây họ vì không tác động lên men chuyển angiotensin, không tác động đến bradykinin hay chất P. Valsartan không liên kết hay chẹn các thụ thể hormon khác hay những kênh ion đã biết ảnh hưởng tới điều hòa tim mạch. Sử dụng valsartan cho bệnh nhân cao huyết áp giúp làm giảm huyết áp mà không ảnh hưởng đến nhịp tim. Ở hầu hết bệnh nhân, thuốc có tác dụng sau khi uống 1 liều duy nhất khoảng 2 giờ và đạt đỉnh 4 - 6 giờ. Tác dụng này kéo dài suốt 24 giờ sau khi uống. Khi dùng liều lặp lại, tác dụng tối ưu của thuốc đạt được sau 2 - 4 tuần và duy trì trong suốt thời gian điều trị. Ngừng valsartan đột ngột không gây ra tăng huyết áp dội ngược hay phản ứng có hại khác trên lâm sàng. Dược động học Sự tuyến tính: Amlodipine và valsartan cho thấy dược động học tuyến tính. Amlodipine/valsartan: Sau khi dùng đường uống, nồng độ đỉnh của amlodipine và valsartan trong huyết tương đạt được tương ứng sau 3 giờ và 6 - 8 giờ. Sinh khả dụng của dạng phối hợp tương đương với sinh khả dụng của valsartan và amlodipine dạng các viên riêng lẻ. Amlodipine: Hấp thu: Sau khi dùng đường uống amlodipine đơn độc với liều điều trị, nồng độ đỉnh của amlodipine trong huyết tương đạt được sau 6 - 12 giờ. Sinh khả dụng tuyệt đối được tính là 64 - 80%. Sinh khả dụng của amlodipine không bị ảnh hưởng do dùng cùng thức ăn. Phân bố: Thể tích phân bố khoảng 21 lít/kg. Các nghiên cứu in vitro với amlodipine cho thấy khoảng 97,5% thuốc trong tuần hoàn gắn kết với protein huyết tương. Chuyển hóa: Amlodipine được chuyển hóa mạnh (khoảng 90%) ở gan thành các chất chuyển hóa không có hoạt tính. Thải trừ: Sự đào thải amlodipine khỏi huyết tương theo 2 pha với thời gian bán thải cuối cùng khoảng 30 - 50 giờ. Nồng độ thuốc trong huyết tương đạt trạng thái ổn định sau khi dùng liên tục trong 7 - 8 ngày. 10% amlodipine dạng không biến đổi và 60% chất chuyển hóa của amlodipine được thải trừ qua nước tiểu. Valsartan: Hấp thu: Sau khi dùng đường uống valsartan đơn độc, nồng độ đỉnh của valsartan trong huyết tương đạt được sau 2 - 4 giờ. Sinh khả dụng trung bình khoảng 23%. Thức ăn làm giảm AUC của valsartan khoảng 40% và nồng độ đỉnh trong huyết tương (C max ) khoảng 50%, mặc dù khoảng 8 giờ sau khi dùng thuốc nồng độ valsartan trong huyết tương như nhau ở nhóm no và đói. Tuy nhiên, sự giảm AUC này không kèm theo sự giảm có ý nghĩa lâm sàng về hiệu quả điều trị, vì vậy valsartan có thể dùng cùng hoặc không cùng với thức ăn. Phân bố: Thể tích phân bố của valsartan ở trạng thái ổn định sau khi dùng đường tĩnh mạch khoảng 17 lít, cho thấy là valsartan không phân bố rộng rãi vào các mô. Valsartan liên kết mạnh với protein huyết tương (94 - 97%), chủ yếu là albumin huyết tương. Chuyển hóa: Valsartan ít bị chuyển hóa vì chỉ khoảng 20% liều dùng được tìm thấy lại dưới dạng các chất chuyển hóa. Một chất chuyển hóa hydroxy đã được tìm thấy trong huyết tương ở nồng độ thấp (dưới 10% AUC của valsartan). Chất chuyển hóa này không có hoạt tính. Thải trừ: Valsartan có động học phân hủy theo kiểu hàm số mũ đa bội (t 1/2 α < 1 giờ và t 1/2 β khoảng 9 giờ). Valsartan chủ yếu được đào thải dưới dạng không biến đổi trong phân (khoảng 83% liều dùng) và trong nước tiểu (khoảng 13% liều dùng). Sau khi dùng đường tĩnh mạch, độ thanh thải của valsartan trong huyết tương khoảng 2 lít/giờ và độ thanh thải của thận là 0,62 lít/giờ (khoảng 30% độ thanh thải toàn phần). Thời gian bán thải của valsartan là 6 giờ. Các nhóm bệnh nhân đặc biệt: Bệnh nhân dưới 18 tuổi: Không có dữ liệu dược động học. Người cao tuổi (> 65 tuổi): Thời gian amlodipine đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương giống nhau ở người cao tuổi và người trẻ. Ở bệnh nhân cao tuổi, độ thanh thải của amlodipine có xu hướng giảm, làm tăng AUC và tăng thời gian bán thải. AUC của valsartan ở người cao tuổi cao hơn 70% so với người trẻ, do đó cần thận trọng khi tăng liều lượng. Suy thận: Dược động học của amlodipine ảnh hưởng không đáng kể khi suy thận. Vì độ thanh thải của thận chỉ chiếm 30% độ thanh thải toàn phần nên không thấy mối tương quan giữa chức năng thận và nồng độ valsartan trong máu. Suy gan: Có rất ít dữ liệu lâm sàng về việc sử dụng amlodipine ở bệnh nhân suy gan. AUC của amlodipine tăng khoảng 40 - 60% ở bệnh nhân suy gan do giảm độ thanh thải của thuốc. Trung bình ở bệnh nhân bị bệnh gan mạn tính nhẹ đến trung bình, AUC của valsartan gấp 2 lần AUC của người tình nguyện khỏe mạnh (tương ứng với tuổi, giới và cân nặng). Cần thận trọng ở bệnh nhân bị bệnh gan.
Thành phần
Amlodipine 5mg, Valsartan 160mg
Cách dùng
Cách dùng Dùng đường uống, nên dùng Clotannex với một ít nước. Liều dùng Liều Clotannex được khuyến cáo là 1 viên/ngày. Có thể được dùng ở những bệnh nhân có huyết áp không được kiểm soát đầy đủ với amlodipine 5 mg hoặc valsartan 160 mg dùng đơn độc. Clotannex có thể dùng cùng hoặc không cùng với thức ăn. Khuyến cáo hiệu chỉnh liều của các thành phần (gồm amlodipine và valsartan) trên từng bệnh nhân trước khi chuyển sang dạng phối hợp liều cố định. Tùy theo tình trạng lâm sàng, có thể xem xét chuyển trực tiếp từ đơn trị liệu sang điều trị phối hợp với liều cố định này. Để thuận tiện, những bệnh nhân đang dùng amlodipine và valsartan có thể chuyển từ dạng viên riêng lẻ sang Clotannex chứa cùng hàm lượng của các thành phần này. Suy thận: Hiện chưa có dữ liệu lâm sàng ở bệnh nhân suy thận nặng. Không cần thiết điều chỉnh liều đối với bệnh nhân suy thận nhẹ đến trung bình. Cần theo dõi nồng độ kali và creatinin ở bệnh nhân suy thận trung bình. Suy gan: Chống chỉ định dùng Clotannex cho bệnh nhân suy gan nặng. Cần thận trọng ở bệnh nhân suy gan hoặc tắc nghẽn đường mật. Ở bệnh nhân suy gan nhẹ đến trung bình không có ứ mật, liều khuyến cáo tối đa là 80 mg valsartan. Khuyến cáo liều dùng amlodipine chưa được thiết lập ở bệnh nhân suy gan nhẹ đến trung bình. Khi chuyển bệnh nhân suy gan tăng huyết áp đủ điều kiện sang dùng amlodipine hoặc Clotannex, nên dùng liều thấp nhất hiện có của amlodipine đơn trị liệu hoặc của thành phần amlodipine tương ứng. Bệnh nhân dưới 18 tuổi: Độ an toàn và hiệu quả của Clotannex ở trẻ em dưới 18 tuổi chưa được thiết lập. Hiện không có sẵn dữ liệu. Người cao tuổi (từ 65 tuổi trở lên): Cần thận trọng khi tăng liều ở bệnh nhân cao tuổi. Khi chuyển bệnh nhân cao tuổi tăng huyết áp đủ điều kiện sang dùng amlodipine hoặc Clotannex, nên dùng liều thấp nhất hiện có của amlodipine đơn trị liệu hoặc của thành phần amlodipine tương ứng. Lưu ý: Liều dùng trên chỉ mang tính chất tham khảo. Liều dùng cụ thể tùy thuộc vào thể trạng và mức độ diễn tiến của bệnh. Để có liều dùng phù hợp, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên viên y tế. Làm gì khi dùng quá liều? Triệu chứng: Chưa có kinh nghiệm về quá liều khi dùng phối hợp amlodip-ine/valsartan. Triệu chứng chính về quá liều valsartan có thể là hạ huyết áp rõ ràng kèm chóng mặt. Quá liều amlodipine có thể dẫn đến giãn mạch ngoại vi quá mức và có thể làm nhịp tim nhanh phản xạ. Đã có báo cáo về hạ huyết áp toàn thân rõ rệt và kéo dài, kể cả dẫn đến tử vong do sốc. Xử trí: Nếu mới dùng thuốc, có thể xem xét gây nôn hoặc rửa dạ dày. Sử dụng than hoạt cho những người tình nguyện khoẻ mạnh ngay lập tức hoặc tối đa 2 giờ sau khi dùng amlodipine đã cho thấy làm giảm đáng kể sự hấp thu amlodipine. Hạ huyết áp đáng kể trên lâm sàng do quá liều đòi hỏi có sự hỗ trợ tích cực về tim mạch bao gồm theo dõi thường xuyên chức năng tim và hô hấp, nâng cao các chi và lưu ý đến thể tích dịch lưu thông và lượng nước tiểu. Thuốc gây co mạch có thể hữu ích trong việc phục hồi trương lực mạch và huyết áp, với điều kiện là không bị chống chỉ định sử dụng. Tiêm tĩnh mạch calci gluconat có thể có lợi trong việc làm đảo ngược tác dụng của thuốc chẹn kênh calci. Cả valsartan và amlodipine khó có thể được loại bỏ bằng thẩm tách máu. Trong trường hợp khẩn cấp, hãy gọi ngay cho Trung tâm cấp cứu 115 hoặc đến trạm Y tế địa phương gần nhất. Làm gì khi quên 1 liều? Bổ sung liều ngay khi nhớ ra. Tuy nhiên, nếu thời gian giãn cách với liều tiếp theo quá ngắn thì bỏ qua liều đã quên và tiếp tục lịch dùng thuốc. Không dùng liều gấp đôi để bù cho liều đã bị bỏ lỡ.
Dữ liệu được ghi nhận vào 2026-08-28T04:04:51.422Z. Dược Hub cung cấp thông tin tham khảo, không bán thuốc trực tuyến và không thay thế tư vấn của bác sĩ hoặc dược sĩ. Giá thuốc và tồn kho không được công bố tại URL này.